728x90 AdSpace

Smiley face
  • Latest News

    NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA

    NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA
    GIỚI THIỆU NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA

    BBT: Trân trọng giới thiệu chuyện ngắn thứ 23 của NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA. Trước năm 1975, ông là giáo sư dạy tại trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Saigon. Ông hiện sống tại Houston, Texas. Nhà văn đã xuất bản nhiều tác phẩm:



    Tập truyện "Bước Đổi Đời"


    Bốn tập truyện trước (mỗi tập gồm 24 truyện ngắn) có thể xem ở:
                http://thdlvnhn.net/btol/truyendai/TruyenNgan-NNHoa/MucLuc.html
    Giang Hà Vạn Cổ Lưu
    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa



    Cuối cùng, với sự khuyến khích và giúp đỡ của Quỳnh Châu, tôi hoàn tất việc soạn thảo Tập II của bộ sách Giải Tích Mạch Điện.  Nàng giúp đọc lại bản thảo, sửa lỗi chính tả, đề nghị cách dịch của một số danh từ chuyên môn, và chỉnh đốn phần Danh từ Chuyên môn Đối chiếu và bảng Danh mục. Tôi lo liệu phần nhàm chán nhất là đưa bản thảo ra nhà in cho thợ xếp chữ và làm bản kẽm các hình vẽ, đọc và sửa chữa bản vỗ (bản in thử), và nộp bản ở nha Kiểm duyệt để xin giấy phép xuất bản. Sách in xong, nàng nắm tay tôi cười vui,

    “Ôông dôông (ông chồng) của em giỏi hết sảy con cào cào!  Không những giáo sư đại

    học Việt nam không mấy người chịu khó viết sách giáo khoa như anh mà đây là một bộ sách kỹ thuật điện tiếng Việt đầu tiên.”

    “Lời nói không mất tiền mua, cô vợ dễ thương của anh ‘lựa lời’ quá đáng làm chồng tưởng thiệt hỉnh lỗ mũi to bành sư đây nè.  Sách giáo khoa đại học không có giá trị thương mại, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì nên không ai thèm viết chứ chồng em giỏi giang gì hơn ai đâu.  Hơn nữa, công lao của anh nếu có thì cao lắm là một nửa, nửa kia là của ông Sinh,” tôi xua tay.



    Năm đầu tiên học cao học ở Đại học Khoa học Sài gòn, tôi lấy lớp Giải tích Mạch Điện với thầy Sinh, giảng nghiệm viên ban Điện tử; lớp này là một phần của “chứng chỉ” bắt buộc phải hoàn tất, mặc dù nó từng là môn lý thuyết sở trường của tôi ở trường kỹ sư.  Thầy lớn hơn tôi ba, bốn tuổi, đậu Master (tức là Cao học) ở Hoa kỳ về, đang viết sách về môn này, mến tài tôi, và mời tôi cộng tác. Thầy đã viết xong bản thảo phần đầu (Tập I) căn cứ theo bài giảng ở Đại học Khoa học và phân công cho tôi viết phần sau (Tập II) và hiệu chính toàn bộ.  Thầy trò thân nhau rất nhanh và xem nhau như bạn bè.  Hôm trước ngày thầy thành hôn với chị Mai học cùng trường với thầy bên Mỹ, tôi cùng với vài người bạn sinh viên cao học đưa thầy vào Chợ Lớn hưởng thú “nhất dạ đế vương” theo kiểu người Hoa để làm tiệc độc thân; ai nấy đều đẹp lòng.



    Khoảng một năm sau, khi Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật chuyển thành Học viện Quốc gia Kỹ thuật, thầy Sinh được bổ nhiệm vào một chức vụ cầm đầu trường Cao đẳng Điện học (“CĐĐH”), khẩn khoản mời tôi nộp đơn xin về trường cũ dạy lại, và khi tôi được tuyển dụng cắt đặt tôi dạy môn Giải tích Mạch Điện cho sinh viên đệ nhị và đệ tam niên ban kỹ sư.  Tôi vừa dạy vừa tiếp

    tục soạn sách và trở thành chuyên gia có thẩm quyền trong ngành học này.



    Thầy Sinh “trụ” ở trường CĐĐH khoảng hơn một năm trước khi “bắt” được cái học bổng đi Hoa kỳ học PhD (Doctor of Philosohy, tức là Tiến sĩ). Trước khi xuất ngoại, thầy bỏ tiền ra in Tập I và viết đề nghị xin trợ cấp nghiên cứu của Cơ quan Văn hóa Á châu (“CQVHAC”), một cơ quan phát triển quốc tế bất vụ lợi với ngân sách do chính phủ Hoa kỳ cung cấp. Cơ quan chấp thuận tài

    trợ 2,000 Mỹ kim cho dự án biên soạn và ấn hành bộ sách.  Tính theo hối suất chính thức, số

    tiền này tương đương với khoảng ba năm lương giảng nghiệm viên CĐĐH của tôi. Thầy làm giấy ủy quyền cho tôi lãnh tiền CQVHAC, và tôi ứng trước trả lại thầy chi phí in Tập I.  Quỳnh Châu thắc mắc,


    “Anh viết Tập II từ đầu đến cuối và đài thọ tiền in cả hai tập, tại sao để tên ông Sinh trước tên anh, ngụ ý ông ta là tác giả chính?”
    “Dự án khởi đầu từ ý kiến của ông ấy, và nếu không có tên tuổi và chức vụ của ông thì sức mấy mà anh chồng giảng nghiệm viên quèn của em được Cơ quan Văn hóa Á châu ghé mắt tới.”
    “Chứ không phải ông ta ỷ thế làm ‘người lớn’ để ép ông chồng uống nước nhớ nguồn, ăn trái nhớ kẻ trồng cây của em phải chịu dưới cơ à? Nhưng thôi, anh nói em nghe tại sao trường Đại học Giáo dục Thủ Đức của cô Bảy (Bình) nhà mình mời anh dạy môn học anh soạn sách mà không thèm nói cho em biết?” nàng hờn mát.
    “Anh quên, nhưng giờ em biết rồi.  Trường đó cũng là một phân khoa thuộc viện Đại học
    Bách khoa Thủ Đức (“ĐHBKTĐ”) như Đại học Kỹ thuật của anh.  Từ nay, anh có thể khoác lác ta đây không những là thầy kỹ sư mà còn là . . . thầy giáo sư.  Hà hà,” tôi cười dã lã.

    Viện ĐHBKTĐ thành hình từ năm 1973 đến 1974 và gồm bảy phân khoa, trong đó có Đại học Giáo dục, trước là trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật, và Đại học Kỹ thuật, trước là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật gồm các trường Cao đẳng Công chánh, CĐĐH, Quốc gia Kỹ sư Công nghệ, Việt nam Hàng hải, và Cao đẳng Hóa học.  Trường CĐĐH nay là Ngành Điện của Đại học Kỹ thuật.
    Văn phòng hành chánh viện ĐHBKTĐ hiện đặt tạm tại số 3 Công trường Chiến sĩ; công trường nằm ở giao điểm hai đường Duy Tân và Trần Quý Cáp và mới đây đổi tên thành Công trường Quốc tế. Một người cầm đầu viện ĐHBKTĐ là ông Khang, nhà giáo dục lão thành đậu Tiến sĩ Giáo dục ở Hoa kỳ; đồng thời ông kiêm nhiệm một chức vụ then chốt của bộ Văn hóa, Giáo dục, và Thanh niên.



    CQVHAC tài trợ cho tôi với tư cách giáo sư viện ĐHBKTĐ và khi xuất quỹ gửi chi phiếu cho viện để chuyển giao cho tôi. Chi phiếu đề tên tôi, người khác không thể lãnh tiền.  Tôi chờ khoảng một tháng mà không thấy động tĩnh nên lên văn phòng viện để hỏi. Tôi gặp hết thư ký đến phụ tá của ông Khang, hỏi chi phiếu CQVHAC thì họ nói chỉ có ông mới “giải quyết” được.

    Hàng tuần, tôi và Quỳnh Châu chỉ cùng rảnh rổi vào sáng thứ Năm để đưa nhau đi ăn sáng, chuyện trò dài lâu, và đi dạo phố. Thay vì lê la ở các sạp vải trên lề đường Võ Di Nguy Sài gòn trong khu chợ Cũ tỉ mỉ lựa hàng lụa nội hóa may áo dài (thời trang nàng mê thích), chúng tôi vào văn phòng viện ĐHBKTĐ xin yết kiến ông Khang.  Nhưng vô hiệu; chúng tôi không sao gặp được mặc dù nhiều lần thấy ông đi đằng xa hay ngồi trong văn phòng.

    Một hôm, anh Hán, con trai bà cụ chủ nhà trọ và cũng là người anh đỡ đầu thời tôi còn là sinh viên, ghé qua quán Cà-phê Nhân gặp vợ chồng tôi.  Quỳnh Châu vui miệng kể lể đùa với anh,


    “Em đẹp đẽ như thế này mà bị chồng bắt hành nghề đòi nợ. Mà em có phải là hung thần ác sát gì cho cam, cứ thấy mặt em ở đằng xa là ngài vội vàng . . . quất ngựa truy phong.”
    “Anh biết cái tính ngang ngạnh của chồng em, nếu cứ phải đòi như thế đến mười năm hắn cũng làm,” anh quay sang tôi, “Cậu biết vào thời buổi người khôn của khó này, không ai dại gì để cậu hưởng mâm cỗ một mình khi họ có quyền chận đầu.  Tôi đề nghị cách này, cậu xem được không?”
    “Ông ta đòi cứa của em bao nhiêu?” tôi hiểu ra và hỏi thẳng.
    “Cậu cưa đôi tấm chi phiếu, một ngàn đô là hắn giao chi phiếu cho cậu lãnh tiền liền tút
    xuỵt."  “Tút xuỵt” tiếng Pháp là “tout de suite” nghĩa là tức thì hay lập tức.

    Tôi gượng cười,
    “Hai ngàn đô la chỉ vừa đủ chi phí ấn loát cho hai tập sách và để em khỏi thâm vốn.” “Năm mươi phần trăm còn hơn không có xu nhỏ nào, cậu nghĩ lại đi,” anh Hán khuyên. “Dạ, trong trường hợp này thì em thà được ăn cả ngã về không.  Tiền bạc có thể khó
    kiếm, nhưng cơ hội eo sách và lên chân với một chính trị gia hàng đầu như ông Khang thì ngàn
    năm một thuở, bỏ qua uổng lắm anh ơi!”
    “Tôi biết cậu gàn bát sách, nhưng bây giờ mới thấy cậu hết thuốc chữa rồi!” anh chịu
    thua.

    Tôi tiếp tục đi đòi nợ – một mình, sau khi thả Quỳnh Châu xuống khu chợ Cũ, và ông Khang tiếp tục lánh mặt. Cho đến một ngày cuối tháng Tư 1975, vợ chồng tôi dắt bốn đứa em bỏ nước ra đi.  Đầu mùa hạ, chúng tôi được đưa tới Trại Pendleton ở tiểu bang California; đó là trung tâm huấn luyện thủy quân lục chiến Hoa kỳ dùng làm trại tỵ nạn. Nơi đây, tôi và Quỳnh Châu mừng rớt nước mắt khi gặp lại anh Hán; anh dọn sang ở chung lều với chúng tôi.

    Ngay sau khi vào trại, tôi gửi thư cho thầy Sinh nhờ thầy viết thư chứng nhận để tôi kiếm việc làm và mượn hai tập sách để nếu cần thì trình cho cơ quan mướn người xem.  Tôi cũng nói tôi rời Việt nam với hai bàn tay trắng và cần được giúp đỡ. Mười ngày sau, tôi nhận được thư thầy vỏn vẹn có đúng một câu,
    Tôi sẽ về Việt nam làm việc; gia đình tôi bình an ở bên nhà.

    Ông Khang làm việc cho ban giáo dục của Chương trình Định cư Người Tỵ nạn Đông dương văn phòng đặt ở Đại học California Long Beach và hàng tuần vào Trại Pendleton trình bày về cuộc sống Mỹ ở bên ngoài, giải đáp thắc mắc, và giúp ý kiến cho đồng bào tỵ nạn về vấn đề định cư. Anh Hán giục tôi gặp ông Khang và yêu cầu ông viết thư chứng nhận với tư cách thượng cấp của tôi ở Sài gòn; tôi lần lữa thoái thác.

    Sau cùng, dù không có thư chứng nhận của thầy Sinh hay của ông Khang, hay bộ sách, tôi cũng được bốn công ty điện và điện tử ở tiểu bang North Dakota ở miền bắc Hoa kỳ phỏng vấn qua điện thoại và hứa nhận làm kỹ sư với nhiệm vụ phù hợp với khả năng chuyên môn.  Gia đình tôi xuất trại đi North Dakota định cư khi trời chớm vào thu.

    * * *


    Chuyện kể rằng sau tháng Tư năm 1975, gần một ngàn tập sách Giải Tích Mạch Điện còn thơm mùi mực xếp thành chồng ngay ngắn trong văn phòng tôi ở trường Đại học Kỹ thuật bị lôi ra liệng dồn lên đống sách vun cao và châm lửa đốt.  Tiêu hủy “tàn tích đồi trụy của Mỹ Ngụy”! Đứa con tinh thần của tôi tan biến theo ngọn lửa trước đôi mắt xót xa của bạn tôi là thằng Thành làm việc ở ban Viễn thông và thằng Kim cùng làm với tôi ở phòng Thử Máy Điện.



    Dưới chế độ mới, thằng Thành bị chỉ định thay thế tôi dạy môn Mạch Điện.  Thiếu sách vở, nó dùng các ghi chép thời đi học và giảng bài theo trí nhớ. Khoảng một năm sau, một người anh họ sống ở miền Bắc làm giáo sư trường Đại học Tổng hợp Hà nội vào Sài gòn thăm gia đình nó. Nó thật thà than thở tình trạng “đói” tài liệu giảng dạy, ông anh rất thông cảm và khi về Hà nội gửi tặng em cuốn sách Mạch Điện đắc ý.  Thằng Thành kể lại,

    “Ba Hoa biết không, nhìn cuốn sách mà Thành hỡi ôi.  Cuốn sách in lem nhem, chữ nghĩa chẳng đâu vào đâu, và được dịch từ cuốn sách Nga xuất bản năm 1947 là năm Thành mới lọt lòng mẹ. Ước chi Thành có được cuốn sách Ba Hoa viết.”



    Mãi đến năm 1989, tôi mới biết cuốn sách của tôi có một bản còn tồn tại, đó là bản tôi tặng thằng Kim mười lăm năm trước. Nó gửi tặng lại tôi “để kỷ niệm một thời hoa niên sôi nổi” và ghi thêm bài thơ “Hý vi lục tuyệt cú” của Đỗ Phủ nhận định về thơ của bốn nhà thơ nổi tiếng nhất thời Sơ Ðường là Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, và Lạc Tân Vương,

    Vương Dương Lư Lạc đương thời thể, Khinh bạc văn chương thẩn vị hưu. Nhĩ tào thân dữ danh câu diệt,

    Bất phế giang hà vạn cổ lưu.

    (Vương, Dương, Lư, Lạc lối đương thời, Chê văn nhạt nhẽo mỉa mai hoài.

    Bọn ngươi tên tuổi nào đâu có, Tên họ non sông ghi vạn đời.)

    (Bản dịch của Phạm Doanh)



    Kết quả của năm năm tìm tòi học hỏi và ba năm lương giảng nghiệm viên giờ đây thu lại thành hai tập sách cũ cầm trên tay.  Nhưng tôi tự hào đã đóng góp cho đất nước thân yêu một công trình đáng kể.  Việt Cộng đốt bỏ nhưng không thể xóa bỏ cuốn sách đó trong ký ức của sinh viên, đồng nghiệp, và đồng bào tôi. Nó đã lưu lại với non sông – giang hà vạn cổ lưu.  Đối với những kẻ chơi không đẹp, tôi cũng biết ơn. Nhờ họ, việc tôi làm dường như đẹp hơn.


    Nguyễn Ngọc Hoa
    Ngày 6 tháng Sáu, 2018
     
    ***


    THỬ LÒNG NGƯỜI HIỀN LƯƠNG

    Bài chuyển thơ từ truyện ngắn của NGUYỄN NGỌC HOA
    Người chuyển thơ NGUYỄN SÁU


    Ở trại Pendleton đã hơn sáu tuần lễ,

    Nay tôi mới có dịp để đến đây.

    Trại số 8, nằm xa tuốt bên ngoài,

    Nhà đầu tiên, ở sát ngay với cổng.



    Nơi gia đình Lục, bạn tôi đang sống,

    Khi ở quê, không giờ trống để thăm.

    Lục là thằng bạn học đã lâu năm,

    Hồi lớp mười một, trường Ban Mê Thuột.



    Lục đích thị là dân miền sơn cước,

    Thích hoạt động, và rất được người thương.

    Là cầu thủ đá banh, đội của trường,

    Và còn là một huynh trưởng Phật tử.



    Xong tú tài một, Lục lìa xa xứ,

    Về Sài Gòn, còn tôi “tử thủ” đây.

    Trong năm cuối trung học, lớp mười hai,

    Hai đứa không gặp lại, ngay từ đó.



    Mười năm rồi, mà tật xưa không bỏ,

    Gọi tên nhau, luôn thường có thêm Y.

    “Y Ba Hoa”, thấy không thay đổi gì,

    Vẫn ngu ngơ, khờ khạo, Y mọt sách”…



    Không chịu thua, tôi trả đũa bằng cách:

    “Y Lục, mặt học trò… giò ăn trộm”

    À mà quên… giò đá banh.

    Mày có con “Hờ” nào tranh không vậy?”



    Y và H, họ người Ra-đê thường thấy,

    Y họ con trai, còn gái đọc “Hờ”.

    Chúng tôi thường hay ghép Y thêm vô,

    Tên bạn mình, để nghe cho ra Thượng…



    Lục kể tôi nghe, những chuyện không tưởng,

    Từ lúc rời khỏi trường, đến giờ này.

    Công việc làm, cùng với những chua cay…

    Xong Tú tài, tao về ngay Phú Bổn.



    Làm trong lực lượng đặc biệt của Mỹ,

    Gặp Thanh Luyến, bị tiếng sét ái tình.

    Đã buộc tao, quyết định lập gia đình,

    Và kết quả là sản sinh hai gái.



    Bốn và năm tuổi, đang chơi ở cuối trại,

    Kế mẹ nó, đang ngồi bên máy may.

    Thanh Luyến ngẩng đầu chào, rồi lo may,

    Lục kể tiếp cho tôi từng giai đoạn…



    Được hai năm, nhóm đặc biệt giải tán,

    Tao qua Cảnh Sát, học khoá sĩ quan.

    Về lại Phú Bổn, đến ngày tan hàng,

    Và cuộc di tản, gian nan, thảm hại.



    Quốc lộ 7 là đường mình triệt thoái,

    Tỉnh lỵ Hậu Bổn, nằm ngay đường này.

    Tao thu áo quần, và đầu máy may,

    Dùng xe Cảnh Sát, theo ngay mở đường.



    Cùng đoàn xe từ Pleiku chạy xuống,

    Ngày 16 tháng 3, được hưởng bình an

    Việt Cộng không có hành động can ngăn,

    Qua hôm sau, chúng dã man truy cản.



    Cả nguyên Sư đoàn 320 hung hãn,

    Bên ta lập phòng tuyến kháng cự mau.

    Cuộc triệt thoái hiểm nguy, đã bắt đầu,

    Tao lái xe chạy thoát, dầu nguy hiểm.



    Khoảng hai mươi cây số, thì gặp chuyện,

    Xe hết xăng, đành phải liệng nó luôn.

    Gởi vợ con theo xe V-100 Commando,

    Của Quân cảnh, dùng để lo hộ tống.



    Tao chạy bộ, rồi theo xe nào trống,

    Bám theo sau, trong sự sống mong manh.

    Khi đến cầu Cà Lúi gần giáp ranh,

    Với Phú Yên, thì Quân cảnh được lịnh.



    Phải dừng lại canh phòng, như dự tính,

    Thanh Luyến và con, quyết định xuống xe.

    Chuyện ngẫu nhiên trùng hợp, đâu có dè,

    Mười phút sau, chiếc xe bị bắn cháy…



    Vợ chồng tao ôm con, và cố chạy,

    Cùng với một số người thấy cả trăm.

    Cố lê lết cho đến đập Đồng Cam,

    Địa phận Phú Yên, thì đâm kiệt sức.



    Đang tuyệt vọng, chiếc Chinook đến đúng lúc,

    Cả đám người lo lập tức ùa lên.

    Vợ chồng tao bồng hai bé, chúng thét lên,

    Không phải con mình, cho nên chúng khóc…



    Con mình đâu? Cả hai đều ngơ ngác,

    Nhìn tứ tung, để quan sát con đâu?

    Quá lo lắng, phải miễn cưỡng lên tàu,

    Thì thấy hai con, ngồi sâu trong đó.



    Mới hoàn hồn, và vui mừng lộ rõ,

    Vì quá chen lấn, bị xô đẩy lên.

    Không thương tích, cũng quả thật là hên,

    Lần đến con, để yên lòng hai đứa.



    Đông Tác, Tuy Hoà, nơi trực thăng đáp,

    Có trại tạm cư ở sát một bên.

    Lục trình diện ty Cảnh Sát Phú Yên,

    Nhưng chỉ còn có mấy tên ngơ ngáo.



    Nên quyết định, vào Nha Trang trình báo,

    Ty Cảnh Sát Khánh Hoà, còn bạo nhiều hơn.

     Việt Cộng còn xa, đã chuồn hết trơn,

    Thôi lo chạy về Sài Gòn cho gấp…



    Nhưng đã mất hết ba ngày chen lấn,

    Mà việc mua vé cũng vẫn chưa xong.

    Chuyện đi xe đò, thật là khó lòng!

    Cảnh hỗn loạn, tao không còn nhẫn nại.



    Nhân người quen có Honda, xin mua lại,

    Ráng đèo nhau, để mình chạy được liền.

    Tôi nghe nó nói, mà thấy ngạc nhiên,

    Nên vội lên tiếng hỏi liền với nó:



    Nha Trang - Sài Gòn, xa xôi thế đó,

    Hơn bốn trăm cây số, đâu có dễ dàng?

    Tao lái, hai con, rồi vợ vai mang,

    Giữa hai chân là máy may, thùng đạn.



    Chạy giặc mà sao phải đem theo đạn?

    Thùng không phải để chứa đạn mà xăng.

    Phải dự trữ đủ, thì mới chắc ăn,

    Gặp nơi nào bán, là châm đầy tức khắc.



    Nhờ Trời thương, xe không có trục trặc,

    Nếu bể bánh, hư lặt vặt cũng phiền.

    Và tao đã về đến Sài Gòn bình yên,

    Giờ nghĩ lại, thấy mình hên thật đấy…



    Nói đến đây, Lục hãi hùng trông thấy,

    Ngưng một lúc, để lấy lại hăng say.

    Rồi lại tiếp, vì chuyện vẫn còn dài,

    Tao ở tạm nhà chú, ngay Chợ Lớn.



    Đợi sức khoẻ, và tinh thần tạm ổn,

    Trình diện Tổng Nha, tròn bổn phận mình.

    Sáng ba mươi tháng tư, thấy tình hình,

    Việt Cộng đã động binh gần xa cảng.



    Vừa nghe tin, tao vội vàng nghĩ đến,

    Chở vợ con ra thẳng bến Bạch Đằng.

    Thấy tàu Đông Hải đang còn trên sông,

    Liền đưa vợ con lên, không suy nghĩ.



    Có khoảng năm trăm người, khi nhìn kỹ,

    Hiện diện trên tàu, chuẩn bị sẵn sàng.

    Đến 10 giờ 24 phút, nghe lệnh đầu hàng,

    Thấy tàu vẫn im, nên vội vàng tìm hiểu.



    Thì ra, tàu không có người điều khiển,

    Nhưng may thay, trong số hiện diện đây,

    Có thuyền trưởng, cơ khí, đã không may,

    Bị tàu họ bỏ lại, thay vì đợi.



    Đã tạo cho Đông Hải có cơ hội,

    Được rời bến, vì đã tới giờ hàng.

    Lại phát hiện, chỉ một máy sẵn sàng,

    Tàu chạy “cà rịch cà tang”ra biển.



    Bị Việt Cộng đã mấy lần xuất hiện,

    Nhưng cuối cùng, ra đến biển bình an.

    Dụng cụ hải hành, tất cả tiêu tan,

    Chỉ nhắm hướng, để biết đàng mà chạy.



    Và cuối cùng, thì cũng đâu vào đấy,

    Sau mấy ngày, đã thấy đảo Pulau Redang.

    Mọi người được xuống, và bị tạm giam,

    Nhưng được cấp cho thức ăn thừa thãi.



    Bốn ngày sau, có tàu Đại Dương ghé lại,

    Đón một số người ở tại đó đi.

    Tao liền theo lên tàu này tức thì,

    Vì nghe nói, tàu sẽ đi đến Mỹ…



    Hơn hai tuần, tàu lênh đênh không nghỉ,

    Cuối cùng cũng đích thị đảo Guam.

    Đúng vào ngày hai mươi ba tháng năm,

    Đến Guam trễ, nên sang Pendleton cũng trễ.



    Gặp mày đây, tao vui mừng khôn kể,

    Người bạn đầu tiên, trong thế xa quê.

    Cùng xuất thân từ vùng đất “Ba Mê”,

    Mới thông cảm, khi nghe về miền núi…



    Tao thấy vợ mày ngồi may suốt buổi,

    May đồ nhà, hay của tụi nào nhờ?

    Nhờ cõng máy theo, mà từ đó đến giờ,

    Bả kiếm được tiền, lo cho tụi nhỏ.



    Công việc của bả, thường thì chỉ có,

    Sửa lại đồ, khi từ thiện họ cho.

    Chỉ trẻ con, thì mới nhờ may đo,

    Từ vải tháo của những đồ đã thải…



    Vừa lúc đó, có một đôi trai gái,

    Đi vào trại, có cầm vải trên tay.

    “Khách của vợ tao”, Lục cho tôi hay,

    Rồi kéo tôi ra bên ngoài nói chuyện.



    Vợ, là khách thường trực của Thanh Luyến,

    Chồng, phi công phụ, vận chuyển cơ C-130.

    Tên là Khang, kể chuyện mãi không thôi,

    Tao nghe đã thuộc hết rồi, chán lắm!



    Chuyện gì vậy? Vui hay là sầu thảm?

    Chuyện tẩu thoát, bảo đảm rất ly kỳ.

    Cướp máy bay, táo bạo không ai bì,

    Làm cho tôi thêm hiếu kỳ muốn biết…



    Rồi Lục kể tôi nghe, từng chi tiết,

    Từ gia đình, đến công việc họ làm.

    Khang, con thứ bảy của Mục Sư Nam,

    Người đứng đầu một cơ quan truyền đạo.



    Văn phòng ở Sài Gòn, Trần Hưng Đạo,

    Có tám con, đều thích “dạo” không gian.

    Người con trưởng, là thiếu tá không quân,

    Ở Nha Trang, đã bất tuân thượng cấp.



    Về Sài Gòn, khi Cao Nguyên vừa mất,

    Con thứ tư, lái A-37 sát Biên Hoà.

    Còn đứa út, lính không quân mới ra,

    Ở Phan Rang, nơi quê nhà ông Thiệu.



    Khi mặt trận Cao Nguyên vừa kết liễu,

    Khang lén lấy C-130, liều bay mau,

    Ra Phan Rang đón em, nhưng lạc nhau.

    Đoàn tụ Sài Gòn, kẻ sau người trước…



    Mấy cha con, bàn chuyện ra khỏi nước,

    Cho bốn gia đình, đều được tham gia.

    Gồm Mục Sư Nam, và ba thông gia,

    Họ cũng đều là Mục Sư tất cả.



    Để kế hoạch được thi hành kết quả,

    Cần phải móc nối thiếu tá Kiểm ngay.

    Ông là phi công chính C-130 này,

    Vì Khang chỉ phụ, rất gay đánh cắp.



    Địa điểm mà họ hẹn nhau để gặp,

    Là phi trường bỏ hoang, gần Long Thành.

    Chiều ngày ba, tháng tư, cùng đồng hành,

    Bảy chiếc xe chở 53 người, nhanh đến chỗ.



    Kiểm cũng đã đáp C-130 xuống đó,

    Phi hành đoàn, còn có thêm hai người.

    Tất cả đều cùng đến nơi kịp thời,

    Mọi người lên máy bay, rời lập tức…



    Cũng giờ này, bạn của tôi tên Lục,

    Đang cố gắng đem hết sức mình ra.

    Chở hai con, một vợ, trên chiếc Honda,

    Đang gò lưng, để vượt qua rừng Lá.



    Hai hình ảnh, thấy sao tương phản quá,

    Cứ như là, “Bề trên đã thử lòng”.

    Tôi thầm nghĩ, và chỉ biết cầu mong,

    Cho bạn tôi, sớm thoát vòng bất trắc…



    Để tránh ra-đa, Kiểm đã cân nhắc,

    Bay sà sát mặt biển, ắt an toàn.

    Và năm mươi sáu người trong phái đoàn,

    Đã đến Tân Gia Ba an toàn trót lọt.



    Hay tin, chính phủ Việt Nam rất “sốc”,

    Bèn ra lịnh, cho người bốc hết về.

    Chưa xong thủ tục, thì đã cận kề,

    Ngày Sài Gòn đã thuộc về phương Bắc.



    Họ đã được đón tiếp như thượng khách,

    Lại thêm tiền trợ cấp hai chục ngàn,

    Của hội Tin Lành ở Mỹ gởi sang.

    Và thuê phi cơ riêng, mang đi gấp.



    Đến đảo Guam, nhưng các trại chưa lập,

    Nên họ phải bay đến đảo Saipan.

    Rất tiện nghi cho chốn ở nơi ăn.

    Khách sạn năm sao, khó ngăn cảm động…



    Sau hơn một tuần đợi chờ, trông ngóng,

    Máy bay quân sự chở vòng về Guam.

    Và sau đó, được sắp xếp đưa sang,

    Các trại tạm trú, nhiều tiểu bang ở Mỹ.



    Mọi người đều khác nhau trong suy nghĩ,

    Chọn đi trại Pendleton chỉ bốn người.

    Vợ chồng Khang, ông Nam, và con gái Sophie,

    Tôi tò mò hỏi, ông Nam trại số mấy?



    Ông ở trại bốn, nổi tiếng lắm đấy,

    Lập nhóm “thờ phượng Chúa” lấy danh chơi.

    Hàng đêm, ông rao giảng cho mọi người,

    Nhưng từ khi, nghe những lời bào chữa.



    “Vì bổn phận phải tuân theo ý Chúa,

    Nên mới vượt thoát qua cửa Tân Gia Ba”

    Thì bà con đã từ từ lánh xa…

    Sophie, trại bảy, cũng là khách của vợ.



    Hội thánh gì mà sao không bảo trợ?

    Ai mà biết… chuyện của họ làm gì.

    Tao hơi có chút bực bội là vì ,

    Khang luôn kiêu hãnh chuyến đi của họ…



    Nếu công tâm, thì vào thời điểm đó,

    Với Miền Nam, còn chưa rõ trắng đen.

    Họ trốn đi, có lẽ là đầu tiên,

    Còn đánh cắp C-130, tất nhiên có tội…



    Sao ma mãnh mà có nhiều thuận lợi?

    Tôi tự hỏi, khi nghĩ tới bạn mình.

    Gia đình Lục, phải chịu nhiều khổ hình,

    Trời bất công, hay thực tình muốn thử?



    Lòng người hiền lương, mới gây nên sự…

    Bắt mình vượt qua, với bất cứ giá nào.

    Mọi hy sinh, đều được trả giá cao,

    Hai mươi lăm năm sau, nào ai biết…



    Con gái bạn tôi, giờ nên danh hết,

    Đứa bác sĩ chuyên khoa, rất biệt tài.

    Đó là đứa lớn, còn đứa thứ hai,

    Phóng viên chính, của một đài truyền hình.

    Ở Dallas, thuộc tiểu bang Texas…

     
    SÁU NGUYỄN
    ***
    Links MUC LUC TRUYEN NGAN NGUYEN NGOC HOA

    Tập truyện "Bước Đổi Đời"

    Lời trần tình của tác giả: Xin lưu ý tập truyện ngắn này không phải là hồi ký, tự truyện, hay tài liệu ghi lại dữ kiện lịch sử. Mọi nhân vật đều được dựng nên, tiểu thuyết hóa cho phù hợp với câu chuyện, và có thể không tương ứng với nhân vật có thực nào. Nhân vật xưng "tôi" không phải chính tác giả mà có thể mang dáng cách, tâm sự, và mơ ước thầm kín của bạn bè cùng thời. Xin đừng liên kết nhân vật trong truyện với bất cứ ai ở ngoài đời.

    * * *

    15. Một Mối Tình, Hai Nỗi Riêng

    Tôi vẫn giữ lệ sáng thứ Năm đưa Quỳnh Châu đi ăn sáng và dạo phố dù đêm trước trằn trọc suốt đêm. Buổi trưa, ba má nàng gọi chúng tôi tới nhà ăn cơm. Cha vợ tôi vừa nghỉ hưu sau nhiều năm làm việc trên bộ Quốc gia Giáo dục và đang nghiên cứu kinh Pháp Hoa, tức là Diệu pháp Liên hoa kinh, một bộ kinh quan trọng nhất và chứa đựng những quan điểm chủ yếu của Phật giáo. Trong lúc Quỳnh Châu trò chuyện với mẹ nàng trong nhà, tôi ngồi dưới giàn hoa giấy nhìn ra đường Hồng Thập Tự, uống nước trà, và nghe ông giảng kinh Pháp Hoa. Rốt cuộc ông nhớ ra,

    “Chiều nay anh không đi dạy?”

    “Dạ các giảng khóa của con đã chấm dứt ở cả hai trường Phú Thọ lẫn Phú Nhuận; con chỉ làm nhiệm vụ hành chánh, đọc sách, và nghiên cứu giảng khóa mới. Nhưng hồi này đầu óc lung ta lung tung nên con không sao tập trung tinh thần để làm bất cứ việc gì,” tôi than thở.

    “Ba hiểu. Quen biết anh hơn mười năm nay và biết rõ anh thương quý con Châu, ba má muốn anh ghi nhớ điều này: Anh phải quyết định những gì tốt đẹp nhất cho vợ chồng anh và tương lai con cái mà đừng lo lắng gì cho ba má cả. Ông bà già sống đến tuổi này, đã hưởng mọi vui thú trên đời, và không mơ ước gì hơn,” giọng ông trầm xuống.

    Mặt trời khuất bóng sau những ngôi nhà cao khi tôi và Quỳnh Châu về đến nhà và trông thấy mọi người lăng xăng vui mừng khác thường. Cháu Dưỡng cuống quít nhảy cẫng lại giật giật tay tôi, “Chú Sang có bồ! Chú Sang có bồ!” Em Bình đưa mắt nhìn chúng tôi rồi liếc sang thằng Sang và cười chúm chím. Mẹ đang nói chuyện với một thiếu nữ trạc độ hai mươi tuổi, tóc dài ngang vai, mặt tròn xinh xắn, và môi cười tươi tắn ngồi cạnh thằng Sang. Nàng đứng dậy chào chúng tôi; tôi giới thiệu nàng với Quỳnh Châu,

    “Đây là Hạnh Thúy bạn của Sang; anh gặp Thúy trong lần ra Phan Thiết thăm Sang khoảng một năm rưỡi trước đây. Em thấy Thúy đẹp dễ tào không?”

    Hạnh Thúy tiếp tục câu chuyện còn bỏ dở với mẹ,

    “Khi Phan Thiết thất thủ và quân mình rút lui, ba má con tiếc của ở lại giữ cửa hàng, nhưng giục con và em con ra đi. Nhờ quen với một sĩ quan Hải quân, hai chị em được cho lên tàu Hải quân rồi đưa ra trại tỵ nạn ngoài đảo Phú Quốc. Ở đó hai ngày với khoảng bốn chục ngàn người khác, con gặp ông anh họ làm lính Hải quân và nhờ ảnh gửi quá giang về căn cứ Hải quân Cát Lái ở Thủ Đức.”

    “Bây giờ cô và cậu em ở đâu, về đây ở cho có chị có em,” mẹ thành thực mời.

    “Dạ cám ơn bác, tụi con ở nhà cậu gần cầu Chữ Y trong Chợ Lớn.”

    Thằng Sang ngượng nghịu và lúng túng ngồi không yên. Thấy tôi và Quỳnh Châu, nó vội vàng đứng dậy kéo chúng tôi ra sau nói nhỏ,

    “Anh còn tiền không, cho tui mượn đỡ ít xấp (vài ngàn)?”

    “Tao hết sạch rồi, nhưng để hỏi Châu xem,” tôi hiểu ra tại sao nó chưa rời khỏi nhà.

    “May quá, hồi đầu tháng lãnh lương Châu chưa tiêu hết, còn gần một nửa đây. Sang lấy giúp Hạnh Thúy trong lúc hoạn nạn.”

    Thằng Sang vào nhà trên và hất hàm nói với Hạnh Thúy,

    “Thôi mình đi . . .”

    “Dạ, dạ thưa bác cho con về,” nàng đứng dậy.

    “Sao không ở nhà ăn cơm rồi đi chơi?” mẹ nói với thằng Sang nhưng biết nó sẽ không nghe lời nên dặn dò với câu nói thường lệ, “Nhớ về sớm sớm nghe con.”

    “Con đưa Thúy về rồi tới nhà bạn ngủ, tối không về, và sáng mai vào bộ Tổng Tham mưu trình diện; có lẽ chiều mai con mới về nhà,” thằng Sang hối hả cùng Hạnh Thúy ra đi.

    Tối hôm sau, cơm nước xong, thằng Sang rủ tôi và Quỳnh Châu ra quán Đa La trên đường Đào Duy Từ bên hông sân vận động Cộng hòa uống cà-phê và nghe nhạc. Lâu tôi không đến đây, quán có lẽ đã đổi chủ, và lối trang trí cũng khác. Khung cảnh cũ nhắc nhở những tháng ngày hai anh em bỏ nhà đi bụi đời, vào ở lậu trong Đại học xá Minh Mạng gần đó, và cùng nhau chia sẻ khổ cực thiếu thốn. Dưới ánh đèn mờ và trong tiếng nhạc dập dìu, em tôi bộc lộ nỗi hận sầu dấu kín trong lòng lâu nay.

    * * *

    Sang từ giã Đại học xá trình diện nhập ngũ theo lệnh gọi động viên, thụ huấn quân sự tại trường Bộ binh Thủ Đức, và trải qua chín tháng tập luyện gay go. Nhờ có bằng Tú tài ban B (Khoa học Toán) và đã học “chứng chỉ” MPC tức là lớp Toán Lý Hóa ở Đại học Khoa học Sài gòn, Sang được chọn về binh chủng Pháo binh và đưa đi học chuyên môn ở trung tâm Huấn luyện Pháo binh ngoài Dục Mỹ. Khóa học pháo binh kéo dài bốn tháng; thứ Bảy Chủ Nhật hay ngày lễ được nghỉ phép, Sang dzù về Nha Trang chơi, ở đó cha mẹ có nhà riêng từ lâu tuy gia đình đang ở Tuy Hòa. Nhờ vậy, mẹ và Sang có cơ hội trùng phùng và nối lại nhịp cầu tình thương bị gián đoạn mấy năm qua.

    Chàng chuẩn úy pháo binh mới toanh được bổ về tiểu khu Bình Thuận ở Phan Thiết làm sĩ quan tiền sát theo bộ binh đi hành quân, gọi là đi đề-lô. “Đề lô” là cách đọc chữ viết tắt DLO của "détachement de liaison et d’observation" tiếng Pháp nghĩa là biệt phái để liên lạc và quan sát. Hãnh diện với nhiệm vụ của mình, Sang biên vào cuốn sổ ghi công việc hàng ngày,

    Tên tôi là San hô
    Chỉ thích đi đề-lô.

    “San hô” là tiếng ngụy hóa chữ S (Sang) dùng khi gọi máy truyền tin. Những ngày không đi hành quân, chiều chiều Sang xuống biển Thương Chánh ngồi duới bóng mát đồi dương uống bia với các sĩ quan độc thân khác, hay giờ tan học lảng vảng trước cổng truờng trung học Phan Bội Châu, nhìn những chiếc áo dài trắng tung bay truớc gió, và mơ ước làm quen với con nhạn trắng tươi cuời xinh xắn là Hạnh Thúy. Nàng học lớp 12, gia đình người Việt gốc Hoa có cửa hàng bán đồ điện trên đường Gia Long, và cửa hàng chiếm trọn tầng trệt, ba tầng lầu trên dùng để ở. Dùng một kỹ thuật làm quen học được từ các anh lớn thời Đại học xá, Sang đi tới gần nàng và đánh bạo hỏi,

    “Hạnh Thúy biết ở Bình Thuận người ta gọi cô gái đẹp nhất, ngoan nhất, và hiền nhất là gì không?”

    “Làm sao tui biết được?” nàng cười duyên đẹp hết sảy.

    “Là Hạnh Thúy đó, không biết sao?” Sang làm bộ ngần ngừ một giây rồi ra chiêu.

    “Anh này ăn nói dzô dziêng, xạo ke mà không biết mắc cỡ,” nàng cười khúc khích.

    “Vô duyên sao Hạnh Thúy lại cười? Mình bồ tèo với nhau nghen?” Sang tung chiêu tối hậu.

    “Cũng được. Nhưng anh phải lại nhà chơi, đừng lẽo đẽo theo ngoài đường người ta cười tui thúi óc.”

    Vậy là hai người quen nhau, và tình yêu của họ dần dần lớn mạnh. Cha mẹ nàng lạnh nhạt với Sang, nhưng không công khai phản đối và cho phép nàng đi dự liên hoan của sĩ quan tiểu khu trong những dịp lễ lớn với Sang. Sang yêu nàng với cả tấm lòng và mơ ước chuyện tương lai với nàng. Buổi tối ngày được thăng chức thiếu úy, Sang hớn hở đến nhà nàng định báo tin và ngỏ lời phác họa hôn nhân. Trước khi Sang bước lên lầu, đứa em kế mười sáu tuổi của nàng là thằng Tần giang tay ngăn lại,

    “Anh Bác sĩ Tạo ở trển. Chị tui nói lâu lâu ảnh mới về thăm, chỉ không muốn ai lên quấy rầy.”

    “Tần có chắc như vậy không? Sao lạ vậy?” Sang ngạc nhiên đến cực độ.

    “Có gì mà lạ? Ba má tính gả chị tui cho anh Tạo, ông bả biểu tui nói với anh đừng tới đây gặp chỉ nữa.”

    Sang đã nghe nói Trung úy Tạo, Y sĩ trưởng Trung đoàn XX đóng ở Sông Mao, ngắm nghé hỏi cưới Hạnh Thúy, nhưng vững tin vào tình yêu của nàng nên không lo ngại một mảy may – cho đến bây giờ. Sang đau đớn lảo đảo bước ra đường. Ba giờ sáng, đội Hải quân tuần tiểu quanh doanh trại tìm thấy Sang nóng sốt mê sảng và nằm co quắp trên bãi cát biển Thương Chánh. Một tuần sau, Sang xin ra cầm trung đội đặt cách trung tâm thành phố khoảng bốn cây số. Và từ đó hầu như không lai vãng về phố.

    Ít lâu sau, Phan Thiết xầm xì đồn Tạo bỏ rơi Hạnh Thúy, cưới con gái vị tướng tư lệnh sư đoàn, và đổi về Sài gòn làm việc ở Tổng Y viện Cộng hòa. Tiếp theo, “đài phát thanh truyền miệng” loan tin nàng “lên Đà lạt học,” lối ngụy trang của nhà giàu tỉnh nhỏ gửi con gái mang bầu không người thừa nhận đi xa chờ ngày sinh. Thằng Tần cũng được gửi lên Đà Lạt với chị cho có bạn.

    * * *

    Thằng Sang buồn bã lấy xấp tiền trong túi quần trả lại cho Quỳnh Châu; nàng lắc đầu không nhận,

    “Ủa, Châu tưởng Sang lấy để giúp chị em Hạnh Thúy chớ?”

    “Không cần đâu chị,” em tôi nhấp một hớp cà-phê đá rồi mím môi, “Tối qua, tui đưa cô ả đi ăn Hải Ký Mì gia trên đường Nguyễn Tri Phương rồi, thay vì đưa về nhà ông cậu, dẫn ả vào cái khách sạn nhỏ của người Tàu trên đường Nguyễn Trãi. Tui tính trả thù cho hả giận: hưởng thụ thân xác một đêm cho đã đời rồi sáng hôm sau quẳng vào mặt ả món tiền này, coi như khách làng chơi ăn cháo trả tiền.”

    “Sao ác dữ vậy, Châu không muốn nghe đâu,” Quỳnh Châu nhẹ nhàng trách.

    “Từ lúc ra khỏi nhà mình cho đến lúc về phòng ngủ, cô ả lúc nào cũng dịu dàng tuân phục yêu thương như thuở hai đứa bồ nhau. Chỉ nhắc lại những chuyện vui vẻ ngày trước và không hề nói tới chuyện bị thằng Tạo quất ngựa truy phong hay đi Đà Lạt giải quyết bầu tâm sự; dĩ nhiên tui không hỏi tới làm gì cho đêm . . . mất vui. Khi hai đứa khỏa thân, tui khựng lại khi thấy khoảng da nhăn nhúm trên bụng cô ả, dấu tích của thời kỳ mang thai và sinh nở. Khoảng da nhăn khiến tui nghĩ đến mẹ và những nhọc nhằn khổ đau mẹ gánh chịu để nuôi đàn con thiếu vắng cha lớn khôn. Nàng đã làm mẹ, và người mẹ nào mà không đáng kính trọng? Tui biểu nàng mặc áo quần lại rồi hai đứa quay lưng vào nhau nằm ngủ. Sáng ra, tui đưa tặng món tiền của chị, nhưng nàng cương quyết không nhận.”

    Tôi lặng người thất vọng. Hôm kia, Hạnh Thúy vào trường Phú Thọ gặp tôi. Chuyện di tản nàng kể với tôi có một chi tiết khác với điều nói với mẹ hôm qua: Nàng và thằng em di tản từ Đà lạt xuống Phan Rang, không ghé lại Phan Thiết mà đi thẳng vào Bình Tuy, và từ đó được tàu Hải quân đưa ra Phú Quốc; cha mẹ nàng không hề biết hai chị em rời Đà Lạt. Nàng cười thật buồn,

    “Em về Sài gòn gặp anh Sang và để ảnh trách mắng một lần rồi vĩnh biệt. Em sẽ về Phan Thiết và dành trọn đời nuôi nấng đứa con của tình yêu đầu đời và duy nhất.”

    “Cháu không phải là con Bác sĩ Tạo sao? Trai hay gái?”

    “Dạ con gái. Cháu tên là Thúy Sang và mang họ anh Sang.”

    “Thúy Sang” là tên của nàng và em tôi ghép với nhau, tôi sửng sốt,

    “Anh thật sự không hiểu.”

    “Đầu năm ngoái, anh Sang đưa em đi dự buổi tiệc tất niên của sĩ quan tiểu khu. Hôm đó ảnh được ban thưởng huy chương gì đó và bị bạn bè chuốc rượu say nhừ. Em cũng bị ép uống rượu, nhưng không say như ảnh. Ảnh đưa em về nhà, và hai đứa không kềm chế được lòng và để xác thịt làm chủ mình. Có điều là hôm sau tỉnh rượu, ảnh không nhớ cuộc ái ân đêm qua; em không dám nhắc, sợ ảnh hiểu lầm là làm săng-ta bắt ảnh cưới sớm.” “Săng-ta” do tiếng Pháp “chantage” là sự hăm dọa để làm tiền hay âm mưu tròng tréo để thủ lợi.

    “Nhưng sao em đoạn tình với thằng Sang?”

    “Ba má ép phải lấy anh Tạo, không ưng không được. Khi ván sắp đóng thuyền, chính ảnh là người khám phá ra em đã có bầu. Ảnh từ hôn, ba má đánh chửi em thiếu điều gọt đầu bôi vôi, và em đau khổ nhục nhã trăm bề. Tất cả do anh Sang mà ra,” Hạnh Thúy khóc tấm tức.

    Uớc gì tôi biết cách hàn gắn mối tình của em tôi và Hạnh Thúy để bé Thúy Sang có đầy đủ mẹ cha. Lòng tôi ray rứt mỗi khi nghĩ tới thảm kịch suốt đời bé không có tình thương của cha. Ông Trời thật oái ăm đáo để, ác vừa vừa thôi chứ!

    Nguyễn Ngọc Hoa
    Ngày 23 tháng Giêng, 2019
    ***

    MỤC LỤC
    Tập Truyện "Bước Đổi Đời"
    ***
    1. Giang Hà Vạn Cổ Lưu
    2. Hai Mươi Bốn Năm Xưa
    3. Bây Giờ Rõ Mặt Đôi Ta
    4. Đằng Nào Mình Cũng Thua
    5. Tâm Địa Khó Lường
    6. Lỡ Duyên
    7. Cô Dâu Bé Con
    8. Người Yêu Hoa Ly
    9. Người Lính Già Cô Độc
    10. Thằng Lệnh Hồ Xung
    11. Chẳng Còn Lo Âu Gì Nữa
    12. Như Một Lởi Trăng Trối
    13. Ngã Ngựa Nhưng Không Ngã Gục
    14. Chỉ Có Mỗi Một Con Đường
    15. Một Mối Tình, Hai Nỗi Riêng
    16. Không Để Lại Tiếng Nhơ
    17. Chuột Chũi Ngủ Vùi Đất Lạ
    18. Cỏ Nhà Bên Xanh Hơn


     

     


    • Blogger Comments
    • Facebook Comments
    Item Reviewed: NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA Rating: 5 Reviewed By: SA CHI LỆ
    Scroll to Top