VĂN THƠ LẠC VIỆT SỐ ĐẶC BIỆT SÁNG TÁC VĂN THƠ & Sinh Hoạt Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Tại San Jose
VĂN THƠ LẠC VIỆT SỐ ĐẶC BIỆT SÁNG TÁC VĂN THƠ & Sinh Hoạt Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Tại San Jose
Phần Đặc Biệt: Giới
Thiệu Các Sinh Hoạt Tưởng Niệm Quốc Hận! Bằng Giây Phút Này 51 Năm Về Trước!
Phần Đặc Biệt: Giới
Thiệu Các Sinh Hoạt Tưởng Niệm Quốc Hận! Bằng Giây Phút Này 51 Năm Về Trước!
Lời Kêu Gọi Tham Gia
Các Sinh Hoạt Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Tại San Jose,
Thành Phố Có Đông Người Việt Tị Nạn Cộng Sản Nhất Hải Ngoại!
(LVH)
-Tháng Tư Đen, Quốc Hận
lại về! Đối với những người Việt Tị Nạn CS, thì đây là một thời điểm rất quan
trọng, để tưởng niệm những anh hùng đã tử tiết ngay trong biến cố 30 Tháng Tư,
cũng để tưởng niệm các đồng bào đã tử nạn trên đường đi tìm tự do, và cũng để
nhìn lại con đường đấu tranh, chống độc tài CS đã qua.
Năm mươi mốt năm qua,
dù qua hơn nửa thế kỷ, tập thể người Việt tị nạn cộng sản đều ghi nhớ ngày đen
tối này, đó là ngày đau thương của cả dân tộc, ngày đánh dấu hàng triệu đồng
bào bỏ nước ra đi, gần nửa triệu người bỏ xác trong rừng sâu núi thẳm, trên đại
dương mênh mông và cũng là ngày để chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh, tử tiết, oai
hùng của quân, dân, cán, chính VNCH. Các gương tiết tháo “thà chết chứ không
hàng giặc!” của các vị ấy, đã để cho thế hệ đi sau hiểu được giá trị của sự đấu
tranh cho lý tưởng tự do như thế nào. Nên năm mươi mốt năm qua, cộng đồng người
Việt khắp nơi, nhất là tại Thủ Phủ Đấu Tranh San Jose! vẫn giữ được căn cước tị
nạn tại xứ người, Cờ Vàng vẫn tung bay khắp nơi. “Quốc gia hưng thịnh, tùy thuộc
vào người dân có lòng với đất nước.” Nếu một ngày chúng ta vẫn còn lửa tranh đấu
trong tim, thì ngày đó, chúng ta vẫn có quyền hy vọng, thấy đất nước Việt Nam sẽ
có tự do, dân chủ và nhân quyền trong tương lai.
Ngay bây giờ, nếu
chúng ta không làm gì, trong tương lai, đất nước của chúng ta, người dân càng
đói khổ, và sẽ mất nước dần về tay Tàu Cộng. Qua tập đoàn bán nước, chủ trương
“còn Đảng còn mình!” Ý thức được nguy cơ đó, có một cơ duyên đã nổi lên trong
những năm vừa qua là, chưa bao giờ ngay trong nước, hàng trăm, hàng ngàn người
trẻ, bị tù tội, vì đã cất lên tiếng nói đòi công lý, đòi tư do dân chủ! Nhờ những
phương tiện truyền thông hiện đại, chưa bao giờ trong nước và hải ngoại bắt tay
nỗ lực trong công tác đấu tranh mạnh mẽ như thế. Điều này cho thấy “ánh sáng đã
bắt đầu lóe lên…cuối đường hầm!”
Lịch sử Việt Nam chứng
minh, Việt Nam không thiếu anh hùng, và tương lai Việt Nam, không thể để CS cai
trị, Trung Cộng xâm chiếm. Cùng nhau lật đổ chế độ CS bạo tàn, giữ lấy quê
hương. chúng ta tin tưởng như vậy. Tương lai Việt Nam sẽ tươi sáng. Bình minh,
nắng ấm lại trở về trên đất Mẹ!
Nên ngày nào còn CS
ngự trị, Tháng Tư Đen vẫn còn là một nhắc nhở cần thiết, cho công cuộc đấu
trang dân chủ, đòi lại tự do cho người dân Việt Nam, cho dù đường dài đến đâu
đi chăng nữa!
Mong lắm thay.
Người Lính LVH, Tháng
Tư Đen, Quốc Hận 2026
Thư mời tham dự Lễ tưởng
niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 04, 2026 và chạy xe vòng quanh thành phố San Jose
Kính mời quý đồng
hương đến dự lễ tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30 tháng 04 năm 2026, tại tiền đình Quận
Hạt Santa Clara, số 70 W Heđing St, San Jose, CA95110 và chạy xe vòng quanh
thành phố San Jose.
Xin Mời Quý Đồng
Hương Tham Dự, 2 Sinh Hoạt Ý Nghĩa Nhất, Nhiều Xúc Động, Đau Thương Nhất! Vào
Đúng Ngày 30/4.
*Cả 2 Sinh Hoạt Đều
Có Nhiều Tiết Mục Chạm Vào Trái Tim! Nhất Là Buổi Thắp Nến Tưởng Niệm Thuyền
Nhân, Năm Ngoái, Gần 1 Ngàn Người Tham Dự! (Tất Cả Vào Cửa Tự Do!)
1/Chiều Nhạc Thắp Nến
Tưởng Niệm Thuyền Nhân 51 Năm Tháng Tư Đen!
-Chiều Nhạc Tưởng Niệm
Truyền Thống Lần Thứ 2, 51 Năm Tháng Tư Đen, Nhớ Về Hành Trình Đau Thương Của
Những “Boat People”, Gần Nửa Triệu Thuyền Nhân Đã Lấy Đại Dương Mênh Mông, Làm
Mồ chôn Trên Đường Đi Tìm Tự Đo! Tại Tượng Đài Thuyền Nhân San jose!
*Năm ngoái, gần 1
ngàn người tham dự sinh hoạt ý nghĩa này!
*Đúng vào chiều 30
tháng tư, năm nay, Thứ Năm, 30 Tháng 4, Năm 2026, từ 3 giờ chiều, tới 9 giờ
đêm! Tại Tượng Thuyền Nhân, Đền Thánh Tử Đạo Việt Nam, 685 Singleton Road, San
Jose, Ca 95111
Chương trình tưởng niệm
51 năm “Tháng Tư Đen”.
3:00pm – 6:00pm:
Chương trình văn nghệ (Trong Hội Trường) do các ca nghệ sĩ nổi tiếng nhất trong
vùng và thân hữu của VTLV phụ trách. Có triển lãm nhiều hình ảnh thuyền nhân vượt
biển.
6:05pm – 6:45pm:
Thánh Lễ cầu nguyện cho những thuyền nhân đã chết trên đường vượt biên, vượt biển,
để tìm tự do và những nạn nhân bỏ mình trong chiến tranh.
6:45pm - 8:30pm: Đốt
nến cầu nguyện, do nhóm Xóm Nhỏ cùng ca sỹ Diệu Linh phụ trách.
8:00pm tới 9:00pm, mời
ăn tối nhẹ, với món bún mộc, hoặc bánh canh giò heo nổi tiếng! chè và nước giải
khát!
Vào cửa tự do!
Thay Mặt Ủy Ban Vận Động
Và Xây Dựng Tưởng Đài Thuyền Nhân San Jose.
LVH
2/Lễ Truy Điệu Quân
Dân Cán Chính VNCH cùng các vị Tướng Lãnh Tuẫn Tiết
LỜI MỜI THAM DỰ:
Kính gửi: Quý Đồng
hương tị nạn Cộng sản
-Nhân dịp 51 năm Quốc
Hận 30/4/1975, để tưởng niệm hàng trăm ngàn Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng
Hòa đã anh dũng hy sinh vì tự do và chính nghĩa,
Ủy Ban Thúc Đẩy Xây Dựng
Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ San Jose và Lực Lượng Sĩ Quan Thủ Đức / QLVNCH trân
trọng phối hợp cùng các tổ chức bạn hữu tổ chức: Lễ Tưởng Niệm 51 Năm Quốc Hận
30/4/1975 và Lễ Truy Điệu Quân Dân Cán Chính VNCH cùng các vị Tướng Lãnh Tuẫn
Tiết
Địa điểm: Tượng Đài
Chiến Sĩ Việt Mỹ “Thank You America” (Khu Công Viên Vườn Truyền Thống Việt)
1499 Roberts Ave, San
Jose, CA 95112
Thời gian: lúc 9 giờ
sáng, Thứ Năm, đúng ngày 30 tháng 4 năm 2026!
*Có phục vụ nước uống
và thực phẩm nhẹ!
Sự hiện diện của quý
vị là niềm vinh dự lớn lao, góp phần thể hiện lòng tri ân và tưởng nhớ đến những
anh linh đã hy sinh vì Tổ quốc và lý tưởng tự do.
Chúng tôi kính mong
quý vị dành thời gian quý báu đến tham dự đông đủ, cùng nhau thắp nén hương tưởng
niệm và thể hiện tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Việt Quốc Gia.
Trân trọng kính mời.
Thay mặt Ban Tổ Chức
Nguyễn Minh Đường
& Lê Văn Hải.
Vượt biên sau 1975:
Bí ẩn vụ án bộ đội bắn người vượt biên!
-Vào ngày 18 tháng 6
năm 1979, 93 người, với khoảng một nửa là trẻ em, đã lên một chiếc thuyền đánh
cá rời khỏi Nha Trang. Điểm đến của họ là một trại tị nạn nằm đâu đó ở
Philippines. Trong hai ngày đầu tiên, chuyến đi diễn ra suôn sẻ, nhưng đến ngày
thứ ba thì một tai nạn thảm khốc xảy ra. Vào rạng sáng hôm đó, khi bầu trời vẫn
còn chìm trong bóng tối, chiếc thuyền chở các thuyền nhân đi vào khu vực quần đảo
Trường Sa và đụng phải một rạn san hô. Dù đã làm đủ mọi cách, họ vẫn không thể
đưa thuyền trở lại vùng nước sâu.
Trong lúc tưởng chừng
bế tắc, các thuyền nhân nhìn thấy một ánh đèn pin từ xa chiếu về phía họ. Ánh
đèn có vẻ phát ra từ một hòn đảo không xa nơi họ đang gặp nạn. Không còn cách
nào khác, bốn người đàn ông mang theo hai trẻ em đang bị bệnh bơi đến hòn đảo.
Nhưng một lúc sau, một người đàn ông bơi trở lại và nói rằng có những người nói
tiếng Việt đã gọi họ đến gần rồi nổ súng, giết chết ba người.
Khi trời sáng hẳn,
các thuyền nhân nhìn rõ hòn đảo đêm qua và quyết định bơi đến một lần nữa để cầu
xin sự giúp đỡ. Một người đàn ông đi cùng mẹ của mình đã bơi về phía đảo, nhưng
khi vừa đi được nửa đường thì cả hai bị bắn chết ngay trước mắt mọi người. Ngay
sau đó, các khẩu súng máy và súng cối từ phía hòn đảo bắt đầu chĩa về phía họ.
Các thuyền nhân quỳ xuống cầu xin được tha mạng, nhưng một quả đạn cối phát nổ
trước mũi thuyền, giết chết 20 người.
Tiếp đó, những người
sống sót cho biết một nhóm lính cộng sản rời khỏi boongke, xếp thành hàng ngang
và dùng súng AK bắn vào các thuyền nhân. Vụ thảm sát bạn vừa nghe được hãng tin
AP và UPI công bố vào ngày 23 tháng 5 năm 1979. Vụ việc xuất hiện trên khắp mặt
báo quốc tế với tiêu đề “Bộ đội Việt Nam thảm sát 85 người tị nạn”. Sự việc được
cho là xảy ra vào ngày 20 và 21 tháng 6 năm 1979. 20 người đàn ông, 20 người phụ
nữ và 45 trẻ em đã thiệt mạng. Chỉ có 8 người sống sót, bao gồm hai thiếu niên
15 tuổi, hai cựu quân nhân Không lực Việt Nam Cộng Hòa, hai ngư dân, một thợ
máy và chủ tàu.
Những người sống sót
kể rằng sau khi bị bắn, nhiều người trong số họ chết trên biển do bị thương và
mất máu. Các nhà ngoại giao ở Đông Nam Á xác nhận có một vụ nổ súng ở Trường Sa
vào thời điểm đó. Philippines cho biết đã cứu 8 thuyền nhân sau thảm kịch, đồng
thời xác nhận hòn đảo nơi xảy ra vụ xả súng là lãnh thổ đang tranh chấp, với
quân đội ba nước đang đồn trú. Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines nói không
hay biết về vụ thảm sát. Vào thời điểm này, Việt Nam có quân đội đồn trú trên
sáu đảo ở Trường Sa.
Năm 1987, một chiếc
thuyền chở theo 170 thuyền nhân ra đi đã bị tàu tuần tra của chính quyền Việt
Nam nã đạn bằng súng máy. Một thanh niên 18 tuổi tên Nguyễn Đình Tuấn bị bắn
vào đầu và tử vong. Một người khác tên Phạm Thị Khoa cho biết các thủy thủ trên
tàu tuần tra đe dọa sẽ kéo thuyền của họ trở lại đất liền, nhưng cuối cùng để
cho thuyền đi tiếp sau khi lấy đi nhiều vàng bạc, trang sức của các thuyền
nhân.
Từ năm 1979, chính
quyền Việt Nam đã mở chiến dịch ngăn cản người dân vượt biên, trong đó có sử dụng
nhiều biện pháp mạnh để trấn áp. Vụ thảm sát 85 thuyền nhân có thể nằm trong
chiến dịch này. Chính quyền đã ngăn chặn dòng thuyền nhân như thế nào? Việc
ngăn chặn đã dẫn đến những thảm kịch nào?
Hai tháng sau vụ thảm
sát 85 thuyền nhân ở Trường Sa, trong một cuộc gặp với các nghị sĩ Mỹ, Thứ trưởng
Bộ Ngoại giao Hoàng Bích Sơn xác nhận Việt Nam đang tử hình một số thuyền nhân
và bắt giữ khoảng 4.000 người muốn vượt biên. Đến năm 1981, chính quyền Việt
Nam vẫn trấn áp thuyền nhân bằng các biện pháp rất mạnh mẽ. Tờ Chicago Tribune
dẫn lời John Fitterens, giám đốc tổ chức cứu trợ World Relief International,
cho biết các thuyền nhân cập bến Hồng Kông nói rằng họ đã bị chính quyền Việt
Nam bắn. Ông cũng cho biết có một vụ xả súng vào thuyền nhân lớn đến mức các thủy
thủ người Na Uy phải tháo chạy khi đang làm việc trên một giàn khoan dầu gần bờ
biển Việt Nam.
Theo nhà báo Smith
Hempstone, để ngăn cản người dân, chính quyền Việt Nam không chỉ bắn vào thuyền
nhân mà còn rải mìn dọc theo biên giới. Tuy nhiên, bất chấp sự trấn áp mạnh mẽ,
người dân vẫn quyết tâm rời bỏ đất nước. Tháng 6 năm 1981, tờ Niagara Falls Review
của Canada đăng bài viết của một thuyền nhân, đồng thời là nhà báo tên Hải Lê,
cho biết các thuyền nhân đã mang theo súng trong chuyến vượt biên để bắn trả
quân đội Việt Nam. Con thuyền mà Hải Lê đi có hai khẩu súng và một khẩu chống
tăng B40.
Ngoài việc bắn vào
thuyền nhân, chính quyền cũng áp dụng nhiều biện pháp răn đe khác để ngăn chặn
dòng người vượt biên. Hải Lê kể rằng chính quyền đã bắt giữ hàng loạt người dân
chỉ vì nghi ngờ họ lên kế hoạch vượt biên, dù không có bằng chứng. Đến năm
1987, người vượt biên nếu bị bắt có thể bị giam giữ đến 3 năm trong các trại cải
tạo. Trong một vụ vượt biên mà hơn một nửa số người tham gia bị bắt, chính quyền
đã tịch thu nhà cửa và tài sản của họ. Trong trường hợp của mình, Hải Lê cho biết
chính quyền đã tịch thu ngôi nhà của bố vợ anh vì anh từng sống ở đó trước khi
vượt biên.
Từ sau năm 1975,
chính quyền Hà Nội thể hiện thái độ kỳ thị nặng nề đối với người dân miền Nam.
Họ bị xem là không đáng tin cậy, dù có chống đối chế độ hay không. Sau năm
1977, khi tịch thu tài sản của Hoa kiều và bị Trung Quốc cáo buộc đàn áp, chính
quyền Việt Nam đã cho phép người Hoa rời khỏi đất nước. Theo chân người Hoa,
người dân miền Nam cũng ồ ạt vượt biên trên những chuyến đi không được cấp
phép.
Năm 1980, một nguồn
tin nói với tờ The Observer rằng ước tính có khoảng một phần ba tổng số chuyến
vượt biên là không được cấp phép. Năm 1981, để ngăn chặn người dân vượt biên,
chính quyền kiểm soát chặt chẽ bờ biển đến mức không cho phép tự do đánh bắt
cá. Một số ngư dân phải rời nhà sang khu vực hồ Tonlé Sap của Campuchia để sinh
sống.
Tuy nhiên, vì sao
chính quyền từng làm ngơ cho người dân miền Nam rời khỏi đất nước lại chuyển
sang ngăn chặn dòng thuyền nhân? Từ khoảng 15.000 thuyền nhân đến các trại tị nạn
ở Đông Nam Á vào năm 1977, con số này tăng gấp bốn lần trong năm tiếp theo, lên
62.000 người. Trong 7 tháng đầu năm 1979, con số đạt kỷ lục mới với 177.000 người.
Cuối năm 1978, hãng
tin UPI từ Hồng Kông cho biết số lượng thuyền nhân tăng nhanh do sự ra đi ồ ạt
của các cựu quân nhân, công chức, trí thức Việt Nam Cộng Hòa và cả những người
dân bình thường như công nhân, nông dân, ngư dân. Họ có chung một lý do, đó là
sự phân biệt đối xử nặng nề của chính quyền đối với người dân miền Nam. Một
giáo viên tên Phạm Văn Cần nói rằng chỉ cần dính líu đến chế độ cũ thì coi như
không còn đường sống. Ông cho biết mình từng dạy học trước năm 1975 nhưng bị
cán bộ giáo dục đe dọa đưa đi khu kinh tế mới nếu dám khiếu kiện. Những người
không liên quan đến chế độ cũ cũng bị quy là tư sản mại bản và bị “giáo dục lại”,
có thể bằng cách tịch thu tài sản và đưa đi vùng kinh tế mới.
Ngoài ra, nhiều thanh
niên quyết định vượt biên vì lo sợ bị đưa đi lính ở chiến trường Campuchia. Tuy
nhiên, chính quyền dường như không quan tâm nhiều đến số lượng người vượt biên
hay những thảm kịch mà họ gặp phải. Chính quyền và cán bộ thu được nhiều tiền từ
việc cấp phép cho các chuyến đi chính thức hoặc nhận hối lộ để làm ngơ cho các
chuyến vượt biên trái phép, cũng như tịch thu tài sản mà các thuyền nhân để lại.
Cuối năm 1979, ước
tính chính phủ Việt Nam thu được mỗi tháng đến 90 triệu đô la chỉ từ việc cấp
phép cho người Hoa rời khỏi đất nước. Bên cạnh đó, việc ngăn chặn thuyền nhân
còn xuất phát từ các yếu tố khác. Đầu năm 1978, các nước Đông Nam Á, do phải tự
chi trả chi phí duy trì các trại tị nạn, đã trở nên quá tải. Thái Lan tuyên bố
không cho thuyền nhân cập bến. Malaysia chi khoảng 100.000 đô la mỗi tháng để
duy trì trại tị nạn và cảnh báo có thể bắt giữ các thuyền trưởng chở thuyền
nhân.
Các nước lên án Việt
Nam trục xuất người dân. Hoa Kỳ cũng yêu cầu Việt Nam ngăn chặn dòng người ra
biển và rút quân khỏi Campuchia trước khi thiết lập quan hệ ngoại giao. Hoa Kỳ
là quốc gia tích cực nhất trong việc cứu vớt thuyền nhân, với nhiều tàu và máy
bay tham gia.
Ngoài vấn đề ngoại
giao, Việt Nam bắt đầu nhận thấy thiệt hại kinh tế do làn sóng vượt biên. Một
thuyền trưởng đến Hồng Kông cho biết ông ra đi vì không còn ai làm việc cùng,
khi người thân đều đã vượt biển. Việt Nam không chỉ mất lực lượng lao động mà
còn mất khoảng một nửa số tàu đánh cá, cùng nhiên liệu, động cơ và thiết bị.
Ngoài ra, Mỹ cho biết Việt Nam cũng mất nhiều cán bộ, trí thức như bác sĩ, kỹ
sư, giáo sư và tầng lớp trung lưu.
Tháng 7 năm 1979, tại
một hội nghị với sự tham gia của 65 quốc gia do Liên Hợp Quốc tổ chức về vấn đề
thuyền nhân, Việt Nam cam kết sẽ nỗ lực ngăn chặn dòng người vượt biên. Từ đó,
nhiều biện pháp mạnh được áp dụng như tử hình, bắt giam, tịch thu tài sản và nổ
súng vào thuyền nhân.
Đến năm 1989, khi nhiều
người dân miền Bắc vượt biên do tình trạng nghèo đói kéo dài, chính quyền ban
hành các biện pháp trừng phạt nghiêm khắc hơn đối với những người tổ chức vượt
biên trái phép và lan truyền thông tin sai lệch về cơ hội tái định cư. Chỉ
trong 5 tháng đầu năm, đã có 8.125 người bị bắt và 40 người bị tuyên án tử.
Quân đội, công an và chính quyền địa phương được huy động để ngăn chặn người
dân vượt biên.
Cho đến nay, chính
quyền vẫn chưa công bố đầy đủ thông tin về việc trấn áp thuyền nhân, đặc biệt
là số người đã chết. Nhà nước đã chịu trách nhiệm ra sao về vụ thảm sát 85 thuyền
nhân ở Trường Sa năm 1979? Liệu còn những vụ việc tương tự đã xảy ra?
Nguồn: LKTC Podcast
LÁ BÀI LẬT NGỬA!
Việt Nam sẽ ra sao nếu
chiến tranh Việt Nam không xảy ra hoặc kết thúc sớm hơn? Đây chưa hẳn là câu hỏi
chính xác. Câu hỏi thực sự nên là Việt Nam sẽ ra sao nếu Trung Quốc không nhúng
tay vào chiến tranh Việt Nam?
Trong năm 1971 và
1972, hỏa lực mà Bắc Kinh gửi cho Bắc Việt gia tăng đáng kể. Với hỏa lực này, Bắc
Việt cho 10 sư đoàn đồng loạt vượt biên giới, nổ súng vào các tỉnh Nam Việt
Nam. Báo chí quốc tế nói rằng một cuộc chiến lớn như thế chưa từng xảy ra kể từ
chiến tranh Triều Tiên. Vào tháng 10 năm 1972, Chu Ân Lai cam kết sẽ sát cánh với
Bắc Việt đến tận cùng của cuộc chiến. Lê Duẩn sau đó đã cho kéo dài cuộc chiến ở
Quảng Trị, khiến vô số binh sĩ tử trận.
Nếu không có Trung Quốc,
chiến tranh Việt Nam có thể đã không xảy ra hoặc kết thúc sớm hơn. Lính Bắc Việt
đã không phải cầm súng vào miền Nam. Lính Nam Việt Nam đã không phải chống trả
bắn vào đồng bào của mìn h. Thường dân không phải chết một cách oan ức. Trung
Quốc đã làm gì khiến chiến tranh Việt Nam bùng nổ? Tất cả sẽ có trong video
này.
Kháng Mỹ, giúp Việt
Nam. Quảng trường Thiên An Môn vào ngày 22 tháng 5 năm 1966, Bắc Kinh tổ chức một
cuộc mít tinh lớn nhằm một mục đích duy
nhất, ủng hộ Bắc Việt chống Mỹ. Từ năm 1964, khẩu hiệu “kháng Mỹ, giúp Việt
Nam” đã đi sâu vào đời sống Trung Quốc. Mỗi người dân Trung Quốc đều thấm nhuần
tư tưởng ủng hộ Bắc Việt bằng mọi giá.
Năm 1965, nhà báo
Charles Tyler có mặt tại Bắc Kinh cho biết người Trung Quốc tin rằng Việt Cộng
sẽ giành được chiến thắng tại miền Nam Việt Nam, vì Việt Cộng đang thực hiện mô
hình chiến tranh nhân dân của Mao Trạch Đông. Giáo sư Chen trích dẫn một nguồn
tin đáng tin cậy về số lượng vũ khí mà Bắc Kinh gửi cho Bắc Việt. Theo đó, tính
đến năm 1963, Bắc Việt đã nhận 270.000 khẩu súng, 200 triệu viên đạn các loại,
10.000 khẩu pháo, hơn 2 triệu đạn pháo, hơn 1.000 xe tải, 15 máy bay, 28 tàu hải
quân và hơn 1 triệu bộ quân phục từ Trung Quốc.
Trong những năm tiếp
theo, Bắc Kinh không chỉ gửi vũ khí mà còn đưa cả quân nhân đến Việt Nam.
Trung Quốc tại Việt
Nam.
Vào tháng 9 năm 1966,
một sĩ quan Trung Quốc nói với báo chí Hồng Kông rằng lính Trung Quốc đang chiến
đấu tại Việt Nam. Người này cho biết nhiều lực lượng của quân đội Trung Quốc đã
tiến sát biên giới Việt - Trung. Một số lính Trung Quốc đã vượt biên giới và
chiến đấu bên cạnh lính Bắc Việt.
Từ tháng 6 năm 1965,
Trung Quốc đã đưa các binh đoàn của mình đến Bắc Việt. Công binh Trung Quốc đã
sửa chữa, kết nối các tuyến đường bộ, đường sắt của miền Bắc sang Trung Quốc,
xây dựng các công trình phòng thủ, hệ thống liên lạc và căn cứ không quân cho Bắc
Việt. Trung Quốc cũng gửi một lực lượng phòng không hùng hậu sang Việt Nam.
Theo đó, từ tháng 8
năm 1965, 16 sư đoàn pháo phòng không của Trung Quốc với 150.000 quân đã lần lượt
tiến vào Bắc Việt qua các đợt khác nhau. Vào thời điểm cao nhất, lực lượng
Trung Quốc có mặt ở Bắc Việt lên đến 170.000 quân. Sau này, Trung Quốc xác nhận
đã đưa tổng cộng 320.000 lính vào Việt Nam. Lượng vũ khí mà Bắc Kinh gửi đến Bắc
Việt cũng tăng mạnh trong năm 1965. Trung Quốc còn được cho là đã trang bị đến
cả vật dụng vệ sinh cá nhân cho binh sĩ Bắc Việt.
Lính Trung Quốc không
tự động vào Việt Nam. Lãnh đạo Bắc Việt đã mời gọi Trung Quốc vào ra sao?
Bảo đảm của Trung Quốc.
Từ năm 1962, các nhà
lãnh đạo Bắc Việt đã liên tục xin ý kiến chỉ đạo của Trung Quốc về tình hình Việt
Nam. Mùa hè năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nguyễn Chí Thanh đến Trung Quốc.
Hồ Chí Minh nói rằng rất có khả năng Mỹ sẽ tấn công miền Bắc Việt Nam.
Đến tháng 5 năm 1963,
Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc La Thụy Khanh sang Hà Nội và cam kết rằng
nếu Mỹ tấn công Bắc Việt, Trung Quốc sẽ bảo vệ. Vào tháng 6 năm 1964, Mao Trạch
Đông cam kết trước Văn Tiến Dũng, Tổng tham mưu trưởng của Bắc Việt, rằng Bắc
Kinh sẽ ủng hộ những người cộng sản Việt Nam vô điều kiện.
Đến đầu tháng 4 năm
1965, Lê Duẩn đã nói với Chủ tịch Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ rằng Trung Quốc là
người bạn tin cậy nhất của Việt Nam. Viện trợ của Trung Quốc dành cho Việt Nam
luôn nhiều nhất về số lượng và tốt nhất về chất lượng.
Lê Duẩn xin Trung Quốc
gửi phi công, quân đội và các lực lượng tình nguyện đến Việt Nam. Lê Duẩn giải
thích rằng việc điều động lực lượng của Trung Quốc đến Bắc Việt sẽ cho phép Hà
Nội đưa quân của mình vào miền Nam. Lê Duẩn đề nghị quân đội Trung Quốc tiến đến
vĩ tuyến 19 để bảo vệ hệ thống giao thông vận tải và các vị trí quan trọng của
Bắc Việt.
Đến mùa hè năm 1965,
sau cuộc gặp giữa Hồ Chí Minh và Mao Trạch Đông, Bắc Kinh và Bắc Việt đã thống
nhất rằng Trung Quốc sẽ bảo đảm hậu cần và bảo vệ miền Bắc để Hà Nội có thể đưa
càng nhiều quân vào miền Nam càng tốt.
Với sự bảo đảm này,
quân số của quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tăng gấp ba lần, từ 2,4 vạn
quân vào năm 1961 lên 6,4 vạn quân vào năm 1963. Đến năm 1968, lực lượng này tiếp
tục tăng gấp đôi so với năm 1963, đạt 13 vạn quân.
Năm 1965, cơ quan
tình báo CIA cho biết Bắc Việt đã thực hiện một cuộc tổng động viên lớn. Ước
tính Bắc Việt sẽ có thêm 100.000 quân nhân mới mỗi năm và hàng năm có thể đưa
thêm 60.000 quân nhân xâm nhập vào miền Nam Việt Nam.
Hiện nay, truyền
thông và chính quyền Việt Nam cho rằng Bắc Kinh giúp Bắc Việt trong chiến tranh
Việt Nam đơn giản chỉ vì tình hữu nghị. Sự thật là Mao Trạch Đông đã có những ý
đồ riêng khi nhúng tay vào chiến tranh Việt Nam. Chính ý đồ này đã khiến Mỹ leo
thang chiến tranh tại Việt Nam.
Lý do thực sự.
Sự hỗ trợ nhiệt tình
của Bắc Kinh dành cho Bắc Việt được cho là một phần trong kế hoạch củng cố quyền
lực của Mao Trạch Đông. Giáo sư Chen cho rằng Mao Trạch Đông đã sử dụng chiến
tranh Việt Nam để củng cố uy tín cá nhân sau thất bại của Đại Nhảy Vọt.
Theo đó, Mao đã lợi dụng
việc Mỹ có mặt tại Nam Việt Nam để tạo ra nhận thức rằng Mỹ đang đe dọa và có
thể sẽ xâm lược Trung Quốc. Do đó, Mao Trạch Đông cần tiếp tục tiến hành cuộc
cách mạng ở Trung Quốc.
Trong giai đoạn Trung
Quốc gia tăng viện trợ cho Bắc Việt cũng là lúc Cách mạng Văn hóa lan rộng ở
Trung Quốc. Cuộc cách mạng này đã giúp Mao loại bỏ những đối thủ chính trị có
xu hướng xét lại nổi bật như Đặng Tiểu Bình, Lưu Thiếu Kỳ.
Nói chung, bất cứ ai
cho rằng Trung Quốc không nên nhúng tay vào chiến tranh Việt Nam đều bị cho là
muốn hòa hoãn với “bọn đế quốc”, “phản động quốc tế”, muốn làm suy yếu phong
trào chống đế quốc ở các nước.
Mao Trạch Đông tin rằng
Trung Quốc sẽ thay thế Liên Xô, trở thành trung tâm của cách mạng thế giới, và
Bắc Việt sẽ là một ví dụ điển hình cho việc Trung Quốc cung cấp viện trợ, vũ
khí và chỉ đạo để thực hiện thành công cuộc cách mạng chống lại phe tư bản.
Do đó, khi Bắc Việt
kêu gọi Bắc Kinh tham gia cuộc chiến chống Mỹ, Trung Quốc ngay lập tức tán
thành.
Chính sự can thiệp của
Bắc Kinh đã khiến chiến tranh Việt Nam từ một cuộc chiến du kích nhỏ lẻ tại miền
Nam trở thành một cuộc chiến tranh quy mô lớn, tàn phá cả hai miền đất nước.
Mỹ phải tham chiến.
Về cơ bản, sự hiếu
chiến của các lãnh đạo Bắc Việt không phải là điều Mỹ lo ngại. Thay vào đó, việc
Bắc Việt mở cửa cho Trung Quốc tham gia vào chiến tranh Việt Nam mới là vấn đề.
Từ năm 1965, ngoài việc
đưa quân đội vào miền Bắc Việt Nam, Trung Quốc còn gia tăng số lượng vũ khí gửi
đến Bắc Việt. Trong năm 1965, các trang bị mà Bắc Kinh gửi sang Bắc Việt tăng mạnh,
súng tăng 1,8 lần so với năm trước, từ 80.500 lên hơn 220.000. Đạn các loại
tăng 5 lần, từ 25 triệu lên 114 triệu. Các loại pháo tăng hơn 3 lần, từ 1.205
lên 4.039, và đạn pháo tăng gần 6 lần, từ 335.000 lên 1,8 triệu.
Những diễn biến này
khiến Mỹ lo ngại rằng Nam Việt Nam sẽ không trụ nổi trước sự xâm nhập của Bắc
Việt với hậu thuẫn từ Trung Quốc.
Vào tháng 7 năm 1965,
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara khẳng định Nam Việt Nam là trọng tâm của
cuộc chiến chống lại sự bành trướng của cộng sản. Ông cho rằng Bắc Việt và
Trung Quốc đang thử nghiệm một lý thuyết, bất kỳ chính phủ phi cộng sản mới nổi
nào cũng sẽ bị lật đổ bằng một cuộc xâm lược vũ trang bí mật do nước ngoài hậu
thuẫn, ngay cả khi chính phủ đó có được Hoa Kỳ hỗ trợ về kinh tế và quân sự.
McNamara tin rằng nếu
Nam Việt Nam sụp đổ thì Trung Quốc sẽ cho rằng sự can thiệp của họ là đúng đắn.
Khi đó, không chỉ Nam Việt Nam mà Lào, Thái Lan và toàn bộ Đông Nam Á sẽ sụp đổ
theo.
Sự quan ngại này của
Mỹ không phải là quá đáng. Cho đến những năm 1970, Bắc Kinh đã liên tục thúc đẩy
Bắc Việt phải chiến đấu đến cùng.
Vào năm 1968, khi Bắc
Việt bắt đầu đàm phán với Mỹ tại Hội nghị Paris, Mao Trạch Đông đã nhấn mạnh với
Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng những gì không thể đạt được trên chiến trường thì
cũng không thể đạt được trên bàn đàm phán.
Đến năm 1969, thất vọng
trước tinh thần chiến đấu của Hà Nội, Bắc Kinh đã rút hầu hết lực lượng công
binh và các đơn vị pháo phòng không trở về Trung Quốc.
Đến thập niên 1970, bất
kể thương vong của Bắc Việt nặng nề ra sao, Bắc Kinh vẫn muốn Bắc Việt phải
đánh Mỹ và Nam Việt Nam đến cùng.
Vào tháng 1 năm 1971,
Bắc Kinh lên án Mỹ mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia, đồng thời cam kết
sẽ hỗ trợ Bắc Việt. Theo đó, Chu Ân Lai và Phạm Văn Đồng đã ký một thông cáo
chung, nói rằng hai nước đã thảo luận về cách thức đối phó với Mỹ.
Viện trợ của Bắc Kinh
cho Bắc Việt bắt đầu tăng trở lại vào năm 1971 và 1972. Đến tháng 3 năm 1972,
Hà Nội mở Chiến dịch Xuân Hè, tổng tấn công đồng loạt vào các tỉnh Nam Việt
Nam.
Đến năm 1973, sau khi
Hiệp định Paris được ký kết, viện trợ của Bắc Kinh cho Bắc Việt dần sụt giảm. Mối
quan hệ giữa Bắc Kinh và Bắc Việt trở nên nguội lạnh khi Hà Nội ngày càng liên
kết chặt chẽ với Liên Xô.
Quan hệ Việt - Trung
trở nên căng thẳng khi Bắc Việt chiếm được Nam Việt Nam vào năm 1975. Trong 4
năm sau đó, Việt Nam và Trung Quốc trở thành kẻ thù của nhau khi Hà Nội tuyên bố
giành lại các đảo ở Biển Đông và đưa quân đánh tan chế độ Khmer Đỏ do Bắc Kinh
hậu thuẫn.
Vào ngày 17 tháng 2
năm 1979, Đặng Tiểu Bình cho quân đội Trung Quốc vượt biên giới vào lãnh thổ Việt
Nam trên những tuyến đường mà chính Trung Quốc đã xây dựng vào những năm 1960,
và “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Ngày ấy 30 tháng 4
năm 1975
(Lưu Nguyễn)
tiếp theo)
-Một buổi sáng trên
đường đi chợ mua thức ăn, tôi đã đứng lại nhìn theo đoàn “quân giải phóng” đi
ngang qua khu chợ, chợt thấy một người tách ra, chạy đến hỏi tôi:
- Cô nhớ em không
" Tôi còn đang ngơ ngác thì “quân giải phóng” đã tự khai:
- Em là Lê Văn Ấm
đây.
Lê Văn Ấm! Tôi làm
sao quên được hai anh em sinh đôi giống nhau như đúc, có chung một tên rất mộc
mạc dễ nhớ là Lê Văn Ấm (anh) và Lê Văn Ấm (em), hai trong số học sinh của tôi
năm nảo năm nào, khi tôi dậy học trong vùng “xôi đậu” ngoại thành.
- Em mau lớn quá, vậy
em là Ấm anh hay Ấm em
- Dạ Ấm em.
- Ấm anh thế
nào"
- Dạ, cũng đi bộ đội
hiện nay ảnh thế nào em cũng không biết. Nhà cô ở đâu "
- Gần đây thôi .
- Cô không còn dạy ở
trường cũ "
- Không, cô đổi về
trường gần nhà ở đây, mấy năm nay rồi.
- Hèn chi có lần em về
thăm má, ghé trường mà không thấy cô đâu, thôi em phải đi đây.
- Ừ, em đi mạnh giỏi.
Gặp Lê Văn Ấm trong
đoàn quân “giải phóng”, tôi nghĩ đến những học trò khác, như Nguyễn Văn Thành,
Trần Văn Quảng, Phạm Công Định, Nguyễn Văn Kiệm … đã hy sinh vì lý tưởng Quốc
Gia, mà ngậm ngùi tiếc thương cho tuổi trẻ Việt Nam, sinh ra và lớn lên trong
cuộc nội chiến tương tàn do “bác hồ vĩ đại” chủ mưu.
Tôi có bất ngờ khi gặp
lại Lê Văn Ấm (em), nhưng không bất ngờ bằng khi gặp cô giáo Công Tằng Tôn Nữ
Quế Hương ngồi bán rau muống ở chợ chiều, nhóm trên vỉa hè gần Ngã Tư Bảy Hiền.
Cô giáo người xứ Huế, giọng nói êm như ru, dáng người thon thả, tóc thề buông
xõa ngang vai, bàn tay xinh xinh cầm dù che. Cô rất vui tính nên mỗi khi gặp,
tôi thường nói:
- Chu choa, đi mô mà
cô Hương “điệu ra điệu vào” dễ sợ hỉ.
Tính ra miền Nam mới
được “giải phóng” mấy ngày, mà Công Tằng Tôn Nữ đã đi bán rau muống, thản nhiên
vất đi tất cả những “điệu ra điệu vào”. Cô vất dù che, đội nón lá lụp xụp.
Nhưng qua cách chào mời mua rau, ai cũng có thể nhận ra người bán rau muống
này, không thuộc giai cấp “con buôn, kẻ chợ”, dù cô đang thể hiện vai trò ấy,
qua những bó rau muống và lời chào mời:
- Bà mua giúp bó rau
non.
- Chị mua giúp bó rau
tươi ngon đại hạ gía.
Miệng xinh chào mời,
tay (vẫn còn) nõn nà tỉa tót lại những bó rau, mắt dán vào đấy, nên cô giáo
không biết tôi đang đứng trước hàng rau muống của cô. Tôi đằng hắng sửa giọng
nói như mọi khi:
- O nì, tui mua hết
những bóa rau muống “điệu ra điệu vào”, không cần đại hạ gía hỉ !
- Đồ quỉ nè, mi đi mô
đến đây"
- Đến nhà bà Chánh
xin rau muống về ăn chớ đi mô!
- Lấy mấy bó rau ni về
ăn, khỏi phải đi xin dị quá tề!
- Lấy rau của mụ mới
dị quá tề, vì mụ phải đi mua. Còn đến nhà bà Chánh rau muống mọc mênh mông, lội
xuống cắt đem về ăn bả còn mang ơn nhiều hỉ !
Phụ giúp Quế Hương
bán hết chỗ rau muống, hai đứa tôi đến nhà bà Chánh (ông Chánh là thầy giáo biệt
phái, dạy cùng trường với chồng tôi). Ông Chánh đi gõ đầu trẻ, bà Chánh ở nhà
quản lý bày con và chăm bón ruộng rau muống, ngày ngày cắt bán xỉ cho bạn hàng,
gom tiền sống rất thoải mái.
Mới nghe bà Chánh và
Hương trao đổi gía cả bó rau bán xỉ cho bạn hàng, đã thấy hai người cùng lội xuống
cắt rau đem lên. Bà Chánh lấy dây xước ra từ bẹ chuối khô, cột lại từng bó, bó
rau này lớn gấp hơn 3 lần bó rau Hương bán ở chợ gía 20$ một bó. Tôi thật bất
ngờ về số tiền lời kiếm được ở mỗi bó rau, và hiểu tại sao người đời đã có câu
nói: “phi thương bất phú”. Những bó rau hôm nay bà Chánh tặng cho hai đứa tôi,
chứ không bán. Hương hẹn với bà sáng mai đến mua ba chục bó rau.
Trên đường về, tôi
nói với Hương:
- Mua bán gì có ba chục
bó rau"
- Đồ ngốc, ba chục bó
của bà Chánh tau xớt ra thành 100 bó nhỏ mới bán được, chớ để nguyên bó to đùng
của bả, nhà ai ăn cho hết một bữa, nếu không phải là heo.
- Trời ơi, mua ba chục
bó rau hết có … để tính coi 22$ x 30 = 660$, vậy mà bán được tới 100 x 20 =
2.000$ lận, lời quá xá, tính ra tương đương với “chỉ số” lương 380 của thầy, cô
giáo mới ra khỏi trường Sư Phạm Sàigòn hỉ.
- Ừa, lời vậy đó, mau
mau về nhà cắp thúng đi buôn đi bán kiếm lời, của đâu mà ngồi nhà ăn không ngồi
rồi, lại không biết có được dạy lại hay không "
- Đừng có lo hỉ, tụi
mình dạy văn hóa giáo dục hỉ, chớ đâu có dạy bắn giết mà sợ hỉ. Bằng chứng là mấy
ngày trước, đã có một “chiến sĩ cách mạng” chạy đến vui vẻ chào, nhận ra tau là
sư phụ của anh em nó hồi nẩm ở “18 thôn vườn trầu” hỉ,
- Hỉ, hỉ cái con khỉ
ham bắt chước!
Sẵn có ruộng rau muống
nhà bà Chánh, lại thêm “quân sư” Hương đốc xúi vào, nên tôi hăng hái vào nghề
mua bán. Ngày đầu tiên, tôi cũng bắt chước cô Hương mua ba chục bó rau đem đi
bán thử. Những bó rau muống này, nằm gọn gàng trong khung gỗ, đóng kẹp theo hai
bên bánh xe đạp phía sau, được chồng tôi “thiết kế” nhại theo mẫu mã của thầy
giáo Ngô Đình Toàn chồng cô Hương. Trước khi tôi xuất hành đi bán, bà Chánh đưa
cho tôi cái sô nhựa, trong đó có nắm dây chuối khô và con dao nhỏ, bà nói :
- Cô lần đầu ra buôn
bán, nhớ chia ra từng bó nhỏ bán 20$ như cô Hương. Rau muống non mau héo lắm,
nên phải mang theo cái sô này đựng nước, lâu lâu vảy nước lên rau. Khi thấy cuống
rau đã héo, thì lấy con dao này cắt bỏ chút xíu cọng rau, để bó rau nhìn như mới
cắt (thì mới dùng dao cắt rõ ràng mà). Bà Chánh thật tử tế hết sức.
Chưa biết đi đâu bán
số rau muống này, nhưng khi ra khỏi nhà bà Chánh, tôi trực chỉ hướng Sàigòn.
Đang đi trên đường Lê Văn Duyệt chợt nghĩ đến Phương Thảo nhà ở đường Tô Hiến
Thành, xế góc chợ Hòa Hưng. Thảo dậy Trung Học Đệ I cấp, thân thiết với tôi từ
khi tôi dạy thêm lớp ở trường trung tiểu học THÁNH TÂM, gần nhà Thảo. Tôi đạp
xe rẽ vào đường Tô Hiến Thành, ngạc nhiên khi thấy Thảo, đang ngồi bán bún riêu
ở trước cửa nhà. Nhìn thấy tôi chở xe rau muống tấp vào lề đường, Thảo cũng ngạc
nhiên trố mắt nhìn tôi và hỏi:
- Bà chở rau muống đi
đâu vậy "
- Đi bán chứ đi đâu.
Mình đang định đem vào chợ Hòa Hưng bán đấy, liệu có được không" Suy nghĩ
một lúc, Thảo đề nghị:
- Khỏi phải đem vào
chợ mất công, nồi bún của mình bán gần hết rồi, bà bày rau ra ngay trước cửa
nhà mình mà bán cho tiện. Sẵn đây ăn tô bún đã.
- Ừ, cho mình một tô
bún riêu ăn mừng, cuộc đổi đời của các cô giáo xinh đẹp.
- Rõ khéo “mèo khen
cái đuôi mèo”!
- Ừ, khen cái đuôi
con mèo của ông xã Thảo đó!
Thấy tôi đang loay
hoay tìm chỗ dựng xe rau muống, Thảo nói:
- Bà cứ dựng xe ngay
tại lề đường, trước hàng bún của mình cũng được mà.
- Ừ, phải vậy thôi,
mà bà bán bún riêu từ bao giờ thế "
- Mới vài ngày thôi,
nhà mình đông người đang thất nghiệp, mình thử nấu nồi bún riêu bán trước cửa
nhà, nhắm vào khách là hàng xóm và các bà đi chợ Hòa Hưng. Nếu có bán ế, thì cả
nhà ăn thay cơm. Nhưng không ngờ bán đắt hàng lắm, xem ra bán nồi bún riêu còn
khỏe hơn đi dạy học đấy.
Đang thưởng thức tài
nghệ nấu bún riêu của Thảo, thì có hai anh bộ đội đi đến, đứng lại nhìn xe rau
muống của tôi. Ngứa miệng Thảo mời như trêu ghẹo:
- Rau muống mới hái,
anh “đội” mua về luộc ăn cho mát ruột.
- Thế rau chị bán bao
nhiêu tiền một mớ nào"
Chẳng cần hỏi tôi, Thảo
cầm bó rau lên cho anh đội xem và nói:
- Bó rau này to lắm,
anh đội mua giúp chỉ lấy rẻ 50 đồng thôi.
- Thế chị có tất cả
bao nhiêu mớ "
Tôi trả lời:
- Ba mươi mớ.
- Ba mươi mớ thì
chúng tôi mua tất cả cho chị, nhưng chị có thể viết hoá đơn nhận tiền bán rau,
cho chúng tôi về trình cơ quan được không"
- Được chứ, anh cứ
mua rau đi và muốn viết thế nào chúng tôi cũng viết được.
Thế là Thảo thay tôi
bán rau. Nhận tiền xong, đi vào nhà xé trang vở học trò, cầm theo bút máy Paker
ra hỏi tên anh đội, viết vào hóa đơn chỗ tên người mua, người nhận tiền ký tên
Nguyễn Phương Thảo, đẹp như “rồng bay phượng múa”. Tôi thật không ngờ ngày đầu
tiên đi bán rau muống, lại gặp may đến thế. Và càng may hơn, khi tôi và Thảo
giúp đem xe rau muống vào tận “doanh trại” các anh đội (trại Đào Bá Phước BCH của
binh chủng Biệt Động Quân VNCH, nằm trên đường Tô Hiến Thành gần nhà Phương Thảo).
Tại đây, chúng tôi gặp đám bộ đội đóng quân ở Nha Quân Nhu của VNCH, trên đường
Trần Quốc Toản, họ cầm bó rau muống lên ngắm nghía, muốn xác định “gía trị” thật
sự của bó rau và đồng ý mua 50 bó mỗi ngày.
Trời ạ, mới hôm qua
cô giáo Hương “điệu ra điệu vào” rủ tôi đi bán rau muống. Hôm nay tôi đã lại rủ
thêm cô giáo Thảo, và ngay tức thì dẫn Thảo đến nhà bà Chánh giới thiệu “bạn
hàng” mới cho bà. Bởi vì tôi đã nhường lại “mối” rau anh đội ở trại Đào Bá Phước
cho Thảo, tôi giữ lại mối ở “Nha Quân Nhu” trên đường Trần Quốc Toản.
Vậy là Hương, Thảo và
tôi cũng như bao nhiêu người phụ nữ Sàigòn sau ngày ấy, đã mau chóng trút bỏ áo
dài lụa là thướt tha, giày cao gót kiêu sa, ví da đắt điền xách trên tay, mặc vội
lên người lớp áo bà ba đen, nâu, chân mang dép nhựa đi mua bán kiếm sống. Chẳng
ai ngờ có ngày các cô giáo chế độ “Mỹ-Ngụy” Sàigòn, bán rau muống cho bộ đội miền
Bắc ăn bồi dưỡng sức khỏe, đã tiêu hao khi vượt núi rừng Trường Sơn vào Nam
đánh cho “Mỹ cút Ngụy nhào”. Sau này, khi đọc sách báo khoa học của XHCN, mới
biết các nhà khoa học “đỉnh cao trí tuệ” loài người, đã “nghiên kíu” và cho biết
gía trị mười cân rau muống bằng một cân thịt bò đấy ạ.
Thời gian chúng tôi
đi bán rau muống cũng không bao lâu, vì các anh đội đã bồi dưỡng đủ số lượng
“ca no ri” cần thiết. Và cũng vì trên “đài” đã thông báo cho giáo chức chế độ
VNCH, trở lại “nhiệm sở” cũ của mình.
Đến trường, được
thông báo cho biết giáo chức “ngụy” sẽ được đi dạy lại, sau khi hoàn tất thời
gian “học tập cải tạo”. Tôi nhớ trong lớp học “cải tạo”, cán bộ từ miền Bắc vào
đứng trên bục cao, nói dai nói dài bắt thầy, cô giáo “ngụy” phải thấm thía, biết
thế nào là “bạo lực cách mạng” tạo “ba giòng thác cách mạng”có “sức mạnh vạn
năng”, “khó khăn nào cũng vượt qua”, “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành”, “kẻ thù
nào cũng đánh thắng”, và đã “thành công, đại thành công, đại đại thành công”.
Bác và Đảng đem lại độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, chế độ tư bản
mại bản người bóc lột người đã bị “bạo lực cách mạng” đạp đổ hoàn toàn. Đất nước
ta “Nhân Dân Làm Chủ”, “ Quan lại là đầy tớ nhân dân” v.v và v.v…
Cán bộ nói “Nhân Dân
Làm Chủ” chẳng hề sai, vì sau ngày miền Nam được hoàn toàn “giải phóng”, bất cứ
nơi đâu Nhân Dân cũng được nằm trong đó, nhìn từ xa đã thấy những hàng chữ đỏ
chói, nào là:
Ủy Ban Nhân Dân - Viện
Kiểm Sát Nhân Dân - Tòa Án Nhân Dân - Quân Đội Nhân Dân - Nghệ Sĩ Nhân Dân -
Nhà Hát Nhân Dân - Nhà Sách Nhân Dân - Giáo Viên Nhân Dân - (có cả) - Cửa Hàng
Chất Đốt Nhân Dân.
“Học Tập Cải Tạo”
xong, chúng tôi trở lại trường tiếp tục “công tác” không lương cho đến khi đổi
tiền (500 đồng VNCH đổi lấy 1 đồng XHCN) giáo viên lãnh lương đồng đều 50$ một
tháng, không ngạch trật, chỉ số cao thấp như chế độ cũ. Ngày đầu tiên chứng kiến
việc ông Hiệu Trưởng Võ Thế Trụ, bàn giao sổ sách cho “Ban Giám Hiệu” mới là thầy
Nguyễn Viết Tuân, trong “Hội Nhà Giáo Yêu Nước”, người mà hai năm trước (1973)
đã được ông Hiệu Trưởng Võ Thế Trụ đứng ra ký giấy bảo lãnh chịu trách nhiệm với
Ty Tiểu Học Gia Định, nhận thầy giáo Nguyễn Viết Tuân về dạy ở trường mình. Sau
đó, ông còn làm đơn xin “huyền chức” cho thầy giáo Tuân. Sở dĩ có vụ xin “huyền
chức” này, vì thầy Tuân sau khi tốt nghiệp trường Sư Phạm Sàigòn, đã bị bắt nhốt
tù vì tội tham gia biểu tình chống Chính Quyền Sàigòn. Khi được huyền chức, thầy
Tuân đã được truy lãnh số tiền lương rất lớn, theo thời gian thầy ngồi tù, được
tính là thời gian đi dạy ở trường. Xem ra chế độ VNCH ngày ấy “thối nát” như vậy
đấy!
Tuy có công với thầy
giáo hoạt động “cách mạng” như thế, nhưng ông hiệu trưởng Võ Thế Trụ vẫn bị “mời”
ra khỏi ngành giáo dục, sau khi hoàn tất khóa “học tập cải tạo” giáo chức chế độ
VNCH, tổ chức tại trường Tân Chí Linh, trong quận Tân Bình, tỉnh Gia Định, được
Cao Đăng Chiếm thay mặt Ủy Ban Quân Quản, Ban An Ninh Nội Chính ký xác nhận họ,
tên từng giáo viên, kèm theo dấu lăn hai ngón tay cái trên “GIẤY CHỨNG NHẬN ĐÃ
HỌC TẬP CẢI TẠO”. Sau khóa cải tạo này, những ai dậy Tiểu học (cấp1), Trung học
đệ I cấp (cấp 2), Trung học đệ II cấp (cấp 3) đều được gọi là Giáo Viên, thay
vì trước đó gọi Ià Giáo Sư, nếu dậy bậc Trung học.
Những ngày “Học tập cải
tạo” chủ yếu là kê khai lý lịch (3 đời), phê bình và tự phê bình chính bản thân
mình, tố cáo tội ác của “thực dân đế quốc” và giáo chức chế độ “mỹ ngụy”, rồi
thảo luận, kiểm điểm, họp tổ nhỏ, tổ khối, họp chung, họp tất cả trong Hội Trường
cùng thảo luận, nghe đọc bản “thu hoạch” của mỗi cá nhân, và nghe “thuyết
trình” về các chủ đề “Đấu Tranh Giai Cấp”, “Chuyên Chính Vô Sản”, “Bạo Lực Cách
Mạng”, “Xây Dựng Con Người XHCN”, “Mười Năm Trồng Cây”, “Trăm Năm Trồng Người”
v.v…
Sau khóa “học tập cải
tạo”, không biết ai trong số giáo chức quận Tân Bình, đã nghĩ ra câu sắp hạng
“bản án” theo thứ tự: “nhất Ái, nhì Trung, tam Tiền, tứ Trụ”. Câu này được hiểu
thứ tự qua các họ tên và chức vụ như sau:
- Nhất Ái là hiệu trưởng
Phạm Trọng Ái.
- Nhì Trung là hiệu
trưởng Lâm Toàn Trung.
- Tam Tiền là hiệu
trưởng Nguyễn Văn Tiền.
- Tứ Trụ là hiệu trưởng
Võ Thế Trụ (của trường tôi)
Xếp hạng là như thế,
nhưng “cách mạng” cũng có nhiều điều bất ngờ. Không ai ngờ người hiệu trưởng có
“tội” nhiều nhất là ông Ái “nhất Ái”, nhưng ông Ái vẫn tồn tại nguyên vẹn, với
chức sắc trong “Ban Giám Hiệu” mới, còn người ít “tội” hơn chỉ xếp hạng “nhì”,
“ba” và “tư” thì đã bị sa thải ngay sau khóa “học tập cải tạo”.
Thật ra, bị sa thải sớm
như thế cũng là điều may, bản thân tôi 4 năm sau (1979) cũng đã tự sa thải
mình. Bởi vì sau ngày “giải phóng”, nhà giáo trở nên nghèo hèn lắm lắm, không
còn cao quý, không còn được trọng vọng trong xã hội chủ nghĩa duy vật. Ngành
giáo dục quá bọt bèo thê thảm, bị mỉa mai qua những câu nói: “nhà giáo dứt
cháo”, “thầy giáo tháo giày”, thấm thía hơn với câu ca phũ phàng: “con ơi nhớ lấy
lời cha: nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, tránh xa sư phạm”.
Tránh xa Sư Phạm dưới
“ánh sáng cách mạng” soi đường chỉ lối là tại làm sao" Có phải tại vì
“nhân cách” nhà giáo đã bị Xã Hội Chủ Nghĩa bào mòn, bị uốn nắn theo “tư tưởng
vĩ đại Hồ Chí Minh”, bị thúc ép “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”, bị lãnh
đồng lương ít ỏi, chỉ đủ mua gạo, củi, mắm muối theo tiêu chuẩn nhà nước bán ở
các cửa hàng Quốc Doanh. Muốn có tiền đi chợ mua rau, mua thịt, cá … nhà giáo
phải đem bán ra ngoài chợ đen số mặt hàng “nhu yếu phẩm” được mua gía chính thức
như: 50g bột ngọt, gói trà nhỏ, nửa ký đường, một hộp sữa, nửa kg đậu đen hay đậu
xanh, đậu phụng, vài bao thuốc lá, diêm quẹt, cục xà phòng, vài lưỡi dao cạo,
kim chỉ, vài cuộn giấy vệ sinh, bịch băng vệ sinh Bạch Tuyết. Thầy giáo cũng được
phân phối băng vệ sinh của phụ nữ, thầy không cần dùng thì thỏa thuận trao đổi
với cô giáo nào đó lấy thuốc lá, lưỡi dao cạo râu (cô giáo không cần dùng), hay
bán ra chợ đen kiếm lời chút đỉnh. Bán hết tất cả nhu yếu phẩm cần thiết cho
gia đình ra chợ đen rồi, mà tháng nào cũng thiếu trước hụt sau. Vì lẽ đó, nhà
giáo phải “tranh thủ” đi bán thêm hàng rong, chạy chọt mối lái, buôn hàng xách
trên tay ngoài chợ trời (mới hình thành sau ngày ấy 30-4-75) hoặc đi đạp xích
lô, ba gác, kiếm thêm “thu nhập”, mới đủ nuôi sống bản thân và gia đình.
Đặc biệt, để được mua
“tiêu chuẩn” sữa cho con bú dặm khi mẹ đi dạy. Cô giáo đang nuôi con mọn đã phải
nhịn ăn, nhịn uống trước khi đến gặp bác sĩ “sản phụ khoa”, cởi áo, đưa vú ra
cho bác sĩ bóp nặn đầu vú kiểm tra sữa, không thấy giọt sữa nào chảy ra, thì được
bác sĩ ký xác nhận “mất sữa” 100%, cho mua mỗi tháng 10 hộp sữa. Nếu có vài giọt
sữa chảy ra từ đầu vú thì chỉ có 5 hộp thôi.
Khi đến bệnh viện
Hùng Vương sanh Trâm Anh, đứa con đầu tiên sau ngày “giải phóng”. Tôi may mắn gặp
bác sĩ “sản phụ khoa” là bạn học đang làm việc ở đấy. Sau 75 Tuyết “cận” ra trường,
may mắn không bị đưa đi vùng kinh tế mới. Cũng nhờ ơn bạn, tôi được cấp phiếu
mua sữa trong một năm, mỗi tháng 10 hộp, mà không phải cởi áo, vạch vú ra cho
bác sĩ nắn bóp. Vui mừng quá, tôi quên tiệt khẩu hiệu ngành giáo dục XHCN “mười
năm trồng cây, trăm năm trồng người”.
Đất nước sẽ ra sao,
Con người sẽ ra sao, khi đời sống tinh thần tồi tệ, vật chất quá thiếu thốn"
Câu trả lời rõ ràng là ĐIỀU THIỆN BỊ ĐỐN NGÃ, ĐIỀU ÁC VÙNG LÊN hình thành một
xã hội băng hoại, hỗn loạn thật đáng sợ, như hiện nay đã có nhan nhản những
tin: con đánh cha mẹ, học trò đánh thầy cô, nữ sinh đánh nhau lột quần áo bạn học
giữa phố xá, hiệu trưởng cưỡng ép học trò bán dâm cho quan lớn, xóm giềng lừa đảo
nhau, thậm chí “chàng” gạt cả người yêu bán qua biên giới, nạn buôn bán phụ nữ
và trẻ em ra nước ngoài làm nô lệ tình dục gia tăng. Kinh hãi hơn nữa là chính
mẹ ruột, cha ruột đem con gái mới 14, 15 tuổi đi bán trinh cho khách nước
ngoài. Họ có còn là con người """
Sau khi làm đơn xin
nghỉ việc “trồng người”, tôi ở nhà trồng rau, chăn nuôi heo, gà, vịt trên mảnh
đất nền nhà rộng 200m2, mua lại của người hàng xóm bên cạnh, gia đình ông đã dỡ
mái tôn, cột kèo, bức vách đem về quê cất nhà làm ruông, ông nói: “tan hàng rã
ngũ” ở lại thành phố chẳng biết làm gì mà sống. Tôi nhờ “mất dạy” chuyển qua
ngành chăn nuôi sản xuất, mức sống gia đình khá hơn, còn học được cách phân biệt
vịt xiêm (đắt gía gấp 3 lần) vịt tàu mới nở 1,2 ngày. Tụi vịt “xiêm la” và “tàu
ô” khi còn nhỏ, chúng nhìn giống nhau y hệt, chỉ có má tụi vịt và bà Bảy có nghề
“gia truyền”, mới biết cách nhận ra bê-bi vịt xiêm hay vịt tàu, khỏi chờ nuôi lớn
mới biết, như nhiều người đi mua vịt xiêm con đã bị mua lầm. Bà Bảy căn dặn tôi
khi vào Chợ Lớn mua vịt xiêm con, người bán nói gì kệ họ, cô giáo cứ bắt con vịt
mới nở bỏ lên cánh tay áo hay vạt áo, nếu là vịt xiêm chân nó bấu được vào vải
áo không rớt xuống, còn nếu là vịt tàu, vịt bầu, vịt cổ cò, vịt sen, vịt bắc
kinh v.v … chúng không bám được trên áo rớt xuống ngay.
Một ngày kia, tôi đến
chợ Tân Bình tìm mua thức ăn cho gia súc và thuốc trị bịnh heo, gà. Tôi gặp Tâm
mua bán thuốc Tây ở chợ Tân Bình, (dĩ nhiên là mua bán “chui”) được ngụy trang
bằng một sạp bày bán dụng cụ y khoa như kim chích, ống chích bằng thủy tinh hay
nhựa, bông, băng, dao, kéo và nhiều thứ linh tinh khác. Chồng Tâm là Đại úy bác
sĩ, “học tập cải tạo” chưa về. Nhiều năm rồi chúng tôi mới gặp lại nhau, kể từ
ngày tôi làm phụ dâu cho Tâm, đám cưới đãi ở nhà hàng Continental. Bây giờ đứa
nào cũng đã tay bồng tay mang, gặp lại nhau mừng mừng tủi tủi, kể cho nhau nghe
cả buổi chưa hết chuyện gian khổ, truân chuyên theo vận nước. Tâm rủ tôi ra chợ
mua, bán “chui” với nó. Tôi chịu liền, vì đã có thời gian tôi kinh doanh rau muống
cực kỳ thành công . Tôi nói:
- Thuốc Tây là mặt
hàng “chiến lược”, tao xin chạy theo xách giỏ cho mày để học tên thuốc, nhớ hàm
lượng, cách chữa trị bệnh “thông manh quáng gà” thường gặp sau ngày ấy.
Nếu bán rau muống lời
hơn 2 lần vốn, thì bán thuốc Tây “chui” lời nhiều hơn vì mua bán số nhiều và nhất
là gía cả bị thả nổi. Thời gian tôi mới ra nghề (1979), viên Panadol 500mg của
Hungary (giống như Tylenol của Mỹ) nén trong vỉ 10 viên, mua xỉ ngàn viên gía
2,80$ một viên, bán lại cho mấy ông bà y tá chích dạo và trạm Y Tế 5$ một viên
ngon ơ, họ chặt lại người mua 9$,10$ tùy theo lương tâm mạng mỡ. Sau mua bán ở
chợ, tôi còn bán thuốc trị bệnh tại nhà. Một viên Panadol 500mg tôi bán chỉ có
7$ còn tặng kèm theo Vitamine C, hay Vitamine tổng hợp, với lời căn dặn ân cần.
Nhà tôi ở gần chợ, nên bà con giới thiệu nhau rất nhanh và khen cô giáo trị bệnh
cảm cúm, nhức đầu, tiêu chảy rất mát tay. Thời gian đó, còn thịnh hành loại thuốc
viên màu tím (lâu quá tôi quên mất tên rồi) cũng được dùng như Panadol, nhưng
gía rẻ hơn nhiều vì là hàng sản xuất tại Hà Nội, khoảng chừng mấy chục xu một
viên, nếu mua một thiên (ngàn viên), bán xỉ ra từ 100 viên trở lên là 1$ một
viên, bán lẻ 3$. Loại thuốc này gốc gác từ Hà Nội, Tâm dặn tôi phải lấy cái
“forcept” kẹp viên thuốc đốt thử, nếu viên thuốc bắt lửa cháy ngay là thuốc thật,
nếu cứ trơ ra thì là bột mì đấy. “Tifo-mycine” cũng thử bằng cách đốt cháy, di
nát trên ngón tay, ngửi có mùi hôi như rệp thì mới mua, v.v …
Từ khi tôi tránh xa
“sư phạm” ra chợ Tân Bình mua bán thuốc Tây “chui”, tiền lương tháng của thầy
giáo “nhà ta” tôi không ngó đến. Tôi còn chơi bảnh hơn nhà nước, trả lương mỗi
tháng 100.000$ cho cậu sinh viên Đại Học Sư Phạm, đến nhà dạy kèm con tôi học
thêm Toán Lý Hóa và Anh Văn. Tính ra lương “sư gia” dạy ít giờ mà lãnh nhiều hơn
20.000$ so với lương tháng 80.000$ trong “biên chế” chính thức của giáo viên
nhà nước vào thời điểm năm1990,1991.
Chuyện ngày ấy kể
hoài không hết. Tôi xin tạm dừng. Mai mốt kể tiếp. Nếu quí vị không phàn nàn:
- Biết rồi, khổ lắm,
nói mãi!
*******************
THÁNG TƯ NHỚ EM
Em đã về đây mỗi
tháng Tư
Về quê ngồi lại giữa
sương mơ
Có nghe sương rớt bờ
vai cũ
Bơ vơ mộng mị chốn xa
mờ
Để tháng Tư như dòng
nước chảy
Bôn ba năm thng nước
về đâu
Ta gục xuống đôi bàn
tay lạnh
Lòng nghe rơi rớt ánh
tinh cầu
Ta nghe mãi bên bờ
sông vỗ
Những lời buồn của
tháng trôi qua
Lời tình như sóng
dòng sông cuộn
Nước mắt nào còn mãi
mưa sa
Em ôm trái tim nào đã
lỡ
Một lời thề mộng ước
mai sau
Một nụ cười như vừa nở
lại
Cho ta êm ái mối tình
sầu
Em đã về đây mỗi
tháng Tư
Về đây ta kể một lời
thơ
Em mặc áo dài hoa cúc
nở
Cùng ta đi suốt một nẻo
bờ
Rồi em cảm động từng
cơn khóc
Vạt tóc nào đẫm lệ
quê hương
Tổ tiên ta đã từng
hơi thở
Dựng Sơn hà một giấc
như mơ
Nhớ trong tâm tưởng
ngày hoa gấm
Nụ môi thơm khép nép
hải đường
Ta muốn mở lòng bao
câu nói
Lời yêu kia còn mãi vấn
vương.
Lê Mỹ Hoàn
2/2025
NẮNG HẠN THÁNG TƯ
Tiếng kêu tha thiết gọi
đàn
Những ngày nắng hạn
đâu tàn trú thân
Lòng ta như thể nắng
ran
Thu Đông tan tác, Hạ
hoang mang về
Nơi đây đâu phải chốn
quê
Cho nên nắng hạn lê
thê mỏi mòn
Khô đi những giọt máu
hồng
Dần dà cạn hết giấc nồng
trong tim
Đôi môi khao khát đi
tìm
Tiếng kêu mòn mỏi đắm
chìm nơi đâu
Quê hương mấy cuộc bể
dâu
Trong ta một nỗi u sầu
chưa tan
Thời gian lặng lẽ lướt
nhanh
Làm thêm héo nụ cười
xanh thuở nào
Ôi cơn nắng hạn lao
đao
Hồn ta nứt nẻ ngày
vào thángTư.
Lê Mỹ Hoàn
4/20/1990
ĐỢT NẮNG THÁNG TƯ
Đông vừa qua ở cuối
đoạn đường
Xuân đến những ngày nắng
ấm hơn
Tưởng như mùa Hạ
nhưng bất chợt
Lạnh lại về cơ sốt
miên man
Cơn sốt cao, đầu như
bổ củi
Như nặng lòng đợt nắng
tháng Tư
Vàng sốt bủa vây ngày
trốn chạy
Qua cánh đồng nắng trải
như phơi
Cơn sốt lên cơn mơ lại
đến
Chạy vòng quanh chạy
đến chân tường
Nghe mơ hồ ai đang hạch
hỏi
Bao người ngồi bó gối
như ta
Rồi tự nhiên nghe mùi
muối mặn
Đang lênh đênh trên
biển xuôi dòng
Chợt thét gào như cơn
thịnh nộ
Biển trời đang cuộn một
cơn dông
Ta bên nhau thì thầm
cầu nguyện
Xin trời cho gió lặng
sóng êm
Bỗng mở mắt dường như
im lặng
Tự Do đang cười với
gió Xuân.
Lê Mỹ Hoàn
************
VTLV KÍNH MỜI THAM
GIA -TRANG 30 THÁNG TƯ
THÁNG TƯ TRONG TÔI
Bốn bể trôi thân lạc
Tháng Tư đen u hoài
Quê hương thành mây
khói
Một thời nét tranh
phai
Gót lưu vong lạnh
giá
Trời tự do chưa xanh
Mắt khô cùng năm
tháng
Tim rướm máu không
lành
Nghe quê nghèo nức nở
Ngục tù thay mái
tranh
Tre già rơi tiếng nấc
Lúa non rụng đầu cành
Thuyền nhân trôi sóng
dữ
Xác tan theo mộng
lành
Chim bay không thấy tổ
Chỉ còn gió mong manh
Con lớn khôn đất lạ
Cháu quên tiếng mẹ hiền
Ta gom lời thầm lặng
Dệt giấc mộng đoàn
viên
Năm mươi năm biệt xứ
Tóc pha sương mịt mù
Tim còn nghe thổn thức
Nhớ một thời hoang
thu
Mái tranh xưa rêu phủ
Giếng làng còn đợi
ai?
Khóm cau già lặng lẽ
Ngóng bóng người
lạc loài
Mơ một ngày đất mẹ
Tan khói lửa, yên
lành
Ta trở về thăm lại
Lối nhỏ phủ cỏ xanh
Dẫu chân run, lưng mỏi
Dẫu trán hằn gió
sương
Lòng vẫn mang quê cũ
Như thuở còn sân trường
Cầu quê hương thanh
bình
Hận thù chóng đi qua
Cho cháu con ca hát
Giữa mảnh trời ông
cha
1/4/2025
phamphanlang
Tháng Tư Trong Tôi,
thơ PhamPhanLang, Nhạc Vĩnh Điện, Ca sĩ Tuấn Giang
https://www.youtube.com/watch?v=ltO1NRG0GSA
On Sat, Apr 18, 2026
at 8:12 AM PHƯƠNG HOA <99phuonghoa@gmail.com> wrote:
Kính quý bậc trưởng
thượng, quý thành viên, và thân hữu VTLV,
Tháng Tư lại về, lòng
người tị nạn lại xót xa nhớ về quê hương sau 51 năm xa xứ. VTLV kính mời quý vị đọc bài thơ và nghe nhạc Tháng Tư. Đồng thời kính mời tham gia gửi bài vở về
trang ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM 30 THÁNG TƯ.
Cám ơn quý tác giả đã
gửi thơ, văn, nhạc...l về ngày 30 Tháng Tư.
BBT đang thực hiện trang ĐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM và sẽ giới thiệu đến sớm.
Item Reviewed: VĂN THƠ LẠC VIỆT SỐ ĐẶC BIỆT SÁNG TÁC VĂN THƠ & Sinh Hoạt Tưởng Niệm Năm Mươi Mốt Năm (51) Tháng Tư Đen! Tại San Jose
Rating: 5
Reviewed By: SA CHI LỆ