!!!!!! DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, NƠI QUY TỤ NHỮNG CSVSQ VÕ BỊ, CHIẾN HỮU,
THÂN HỮU CÒN LÝ TƯỞNG VÀ DANH DỰ, KHÔNG VỀ VIỆT NAM KHI CÒN VIỆT CỘNG !!!!!!

*Nguyễn Thế Thăng
Sau
đây là câu chuyện điển hình về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính Cộng
Hòa hằng gánh chịu sau ngày mất nước với lòng can đảm bền bỉ tuyệt đối
của người luôn vững tin về Lý Chính Nghĩa của Quân/Dân Miền Nam cũng như
của toàn Dân Tộc Việt Nam.
Suốt
cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Ðông 1975 là
một cái Ðông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải vì miền Nam Việt Nam vừa
trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay vì lúc ấy tôi đang bị cùm tại
Trại A9/Long Thành, Biên Hòa (Ngã Ba Thái Lan) trong một dãy nhà tôn
vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban
đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm
dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người còn
tươi máu.
Chính
từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước
duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày
nay.
Trước
và sau ngày 30/4/75 tôi đã không hề có ý định chạy ra nước ngoài.
Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Hòa) rồi từ đó vào
rừng gia nhập Liên Ðoàn 5 của Ðại Úy Lê Ðình Thạch (trước đây thuộc Sư
Ðoàn 5/BB) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Ðộng, Cảnh Sát, Ðịa Phương
Quân...
Chúng
tôi sống trong các mật khu cũ của Việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây
(đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngỏ mật khu của họ
lại với đầy đủ chòi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong
chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ còn được
dùng để đánh cá vì hệ thống kích hỏa bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường
tấn công những kho gạo Tân Bình, Tân Bắc, Trà Cổ... Trước khi vác gạo
về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà
dân. Dân địa phương và gia đình cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều
thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải
đánh Việt cộng để lấy AK, B40...
Ðến
khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đã có khoảng 80 người. Biết
không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi
dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia
-Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng còn có một toán
thuộc Liên Ðoàn Biệt Cách 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự
chỉ huy của một người tên Wòng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để
sát nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước
Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu sau
này đã bị giết chết trong tù). Khoảng tháng 10/75, VC đưa hai trung
đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của
Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế,
đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những chòi trên ngọn cây,
bình tĩnh sử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn
bốn ngày đêm, chúng tôi đã mất hơn nửa quân số.
Sau
khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng. Ba người theo tôi
đi về Phước Long. Ðến 10g sáng (?),chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xã
Vĩnh Cửu (?),một trung đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng
mười lăm, hai mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa
đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối
(đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngã vật ra sau nhưng vẫn
tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Úy Nguyễn
Thạch Ðiệp nhất định liều chết để lôi tôi đi... Tôi hét lên, Ðiệp vẫn
không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Ðiệp gằn giọng nếu
không chạy đi, "tôi phải bắn chú", Ðiệp rớm nước mắt “dạ” rồi vọt liền,
cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu
súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào
gáy rồi ngất đi. Hình như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp cò, một
tên khác la lên... “Ðừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó
về”. Lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên võng vải nylon, máu me ướt
sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa
phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu... Giê-Su Ma!!.
Toán
cộng sản đưa tôi về huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai (Biên Hòa), nhốt
tôi trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ còn bốn bức
tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau). Tôi được
đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ
còn một quần lót dính đầy máu đã khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái
áo trận của tôi.
Ðêm
đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy
giờ. Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo
nước mưa. Sau cùng vì quá lạnh, sức đã kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bộ
đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết
vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn
đi vì đầu gối chân phải đã bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương
bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc
chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế
nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường
nhưng sức không còn. Thử cắn lưỡi thì thú thật đau quá, không đủ can
đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi
rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục
chửi tất cả những tên đầu não cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được
như... Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm văn Ðồng, Phạm Hùng, Lê đức Thọ...
Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như
đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt
sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng.... một tấm tôn!
Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô tình mưa rả rích, nước mưa vẫn
gõ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng...
Sáng
hôm sau Việt cộng triệu tập một cuộc mít tinh dân chúng huyện Thống
Nhất để triển lãm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn mươi xác những “tên
ác ôn đã đền tội”. Mười một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số còn
lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep
mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay cò mồi.
Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót
đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, bình tĩnh nhếch mép cười khi nghe những
tiếng hô đòi tử hình kẻ “tội phạm”. Lúc đó đối với tôi hai tiếng “tử
hình” nghe không còn ghê rợn nữa mà thật bình thường vì đó chính là điều
tôi mong đợi và chấp nhận như một sòng phẳng tất nhiên.
Một
cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa
xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to: Ðả đảo những tên “xâm lăng”
(?) khốn nạn, hòa bình không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt
người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành... Hãy để cho tôi
nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!”. Tôi nghĩ mụ này là
“Việt cộng cái” giả dạng thôi, lòng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hãy để
chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cõi đời ô trọc bằng
bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nhìn
thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng
không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy,
miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái gì đó nằng nặng trên bụng,
liếc nhanh, thì ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ
cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lý thú và
cảm thông rất nhanh. Ðôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở
lại ngay với vở kịch còn dang dở! Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút
ít. Ðến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có được một dịp tái ngộ người ân
nhân tuyệt vời này – Không phải vì đơn thuần quả quít mà vì giá trị
khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu.
Những
ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ miền Bắc
tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người
đã lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng
những tay “giải phóng – Cộng sản người miền Nam” thì thật tàn bạo...
Chính nơi đây tôi đã được nhìn thấy thế giới bên kia sau những lần chết
đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng... Tôi đã nhẹ nhàng thanh thoát,
lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm
giác áo quần mặc trên mình dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào
sánh bằng, hình như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát,
thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây,
không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đã
nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quãng đời đã qua từ khi nhập thế. Những
điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài lòng, thảnh thơi trước
những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều
bất thiện. Có lẽ đó là “Tòa Phán Xét” theo giáo lý đạo Thiên Chúa.
Có
thể đó chính là Niết Bàn và Ðịa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đã nghe
và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đã thấy những
con cá giành ăn và nghe chúng cãi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không
sợ chết nữa, trái lại còn mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi như tỉnh
ngộ và nhận rõ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là
một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp
mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đã thoát ra và ngắm nhìn cái xác này bất động.
Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ.
Sau
vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những gì bên kia
cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân tình, một cách rất bình thản: Các
anh thấy tôi đã chết nhiều lần, tôi đã được qua thế giới bên kia, đẹp
lắm, bình yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ
mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn,
không phải trở lại cõi đời này. Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề
đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những
đồng ngũ đã hy sinh qua những tấm hình chụp trắng đen. Anh Thạch nằm
chết bên cạnh khẩu M60 không còn một viên đạn. Mắt anh một nhắm, một mở.
Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tròng. Tay cán bộ
giả vờ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố tình tìm nhưng không nhìn thấy xác
Chuẩn Úy Vũ Thế Cường, là anh họ của tôi (anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế
Nghiệp tức nhà báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Ðức).
Vĩnh biệt các anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ thì thầm.
Quay
trở về mùa Ðông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngã Ba
Thái Lan gồm nhiều dãy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các
cựu viên chức hành chánh VNCH. Chúng tôi khoảng năm mươi người gồm nhiều
thành phần bị nhốt trong dãy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai
quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban
ngày chỉ xiềng một tay vào một chân. Cùng trại có một người lớn tuổi
tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt vì nghi ngờ là sĩ quan cao cấp VNCH đang
trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dõng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi
cụ có liên hệ gì với với một người bạn cùng khóa là Phan Xuân Mai
không. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Ðăng (Không
biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Ðăng, Biên Hòa) người phụ nữ duy
nhất bị bắt vì tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đã dùng sợi dây xích
làm xâu chuỗi, không biết bà đã đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng
như thép ròng vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất
trong suốt hơn hai tháng vì bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi (Th/Úy
Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose
- California), Ngô Ðình Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị
liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y,
người Bình Ðịnh (trông giống hệt hình Quang Trung Ðại Ðế), Trịnh Văn
Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng
chục lỗ đạn....
Cũng
trong trại này có một người lính cũ của tôi, Ðào Văn Lành, không biết
bị bắt bao giờ và về tội gì. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu
cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không
dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi thì vẫn... muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô
lô ba la, cứ vui trước đã, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần
như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi
người được hơn một chén cơm với “thịt cọp”. Thịt cọp có nghĩa là muối
hột, khi nhai kêu cọp cọp.
Tôi
chỉ ăn một nửa muối, phần còn lại dùng pha nước để tự rửa vết thương.
Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối.
Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa bò trong đó có phân nửa chất
nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm
sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà
tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười
ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ: Nước cá kho tôi cho ông có
ngon không? Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không gì so
sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô,
nguyên cả ký lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại
còn nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!
Rồi
cũng qua một mùa Ðông, một mùa Ðông tang thương, thê lương trên khắp
nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn
tháng sau tôi bị chuyển về giam tại xã Ngãi Giao, quận Ðức Thạnh (Phước
Tuy/Bà Rịa). Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng
vô một chân để đi lao động (mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn
tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng Bình Giả, tôi
lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Ðức Quang) thật
thấm thía: “...Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười
muôn đời là một nụ cười không tươi. Nụ cười xa vời, nụ cười của lòng hờn
sôi. Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!”. Trung Úy
Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện tình Lan và
Ðiệp: Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác còn nằm đó mà hồn tan(g) lâu
rồi!! Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ vì hàng sư đoàn rệp tấn công
suốt đêm.
Cũng
tại nơi này, hai thằng em tôi là Ðồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển
bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân
rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Ðích thân thằng trại
trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tròn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng
30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập
tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh, đập một nhát vào đầu Ðồng Quang
Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nhìn,
thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua
một bên, máu vọt ra có vòi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời!! Cố bịt miệng để
khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông
thõng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người
nữa tình nguyện đi chôn. Cả hai xác còn nóng hổi được đặt nằm trên tấm
gỗ dài cỡ 1 thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước,
nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn còn
chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua
úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Ðất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là
mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người
khỏe nhất, hăng hái nhất... Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố
gắng mãi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc!!
Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay
chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài
cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau.
Ðêm
đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt,
tôi nhìn thấy thật rõ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ phòng
giam, không nói gì, đôi mắt thật buồn nhìn về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển
ơi, thôi em hãy đi đi, đừng luyến tiếc gì cõi đời giả tạm này, nghiệp
báo em đã trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hãy để cho lòng thanh
thản mà siêu thoát... Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van
lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. Hình như có tiếng người
trở mình bên cạnh. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Ðồng
Quang Nhường, hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái
gì bầy hầy như phân trâu bò. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em mình đi
đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo (Nhường lúc nào
cũng lạc quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ
người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ
của anh em mình, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ thì vinh
với quang cái khỉ khô gì. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau.
Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Thì ra đó chỉ là một ác mộng.
Mấy
tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ hình, cho phép đi cải tạo. Tôi bị
chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị còn bị cùm hay xiềng nhưng
ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nhìn thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu
Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ
ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà
vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần
hỏi tôi thiếu thốn gì không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao.
Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng
dây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một
túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ
có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn
Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Ðức Hùng, Nguyễn Thành An, Ðặng Kim Cương,
Trương Hội, Phạm Ðức Thịnh... Trại bên có Nguyễn Ðức Phương. Bạn bè chia
sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc
quần treillis còn khá mới.
Ngày
23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông Hương. Nằm trong toa
xe lửa trên đoạn đường từ Hải Phòng lên bến phà Sông Hồng với toàn phân
trâu phân bò, tôi cứ mãi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến
khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận mình,
về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn. Ðôi mắt cay cay chiều xót xa...
Khoá 29 – Trường Võ Bị
Quốc Gia Việt Nam: Chuyến Xe Định Mệnh Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát
LỜI NGỎ
Kính thưa quý Niên
Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,
Giới thiệu: “Khóa 29
– Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: Chuyến Xe Định Mệnh Và Những
Dấu Chân Vào Nơi Gió
Cát”
Tác phẩm là một hồi
ký mang tính chứng nhân, được viết lại từ ký ức của người trong cuộc –
những sĩ quan trẻ
Khóa 29 trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam.
Không đi theo lối kể
sử khô khan, bài viết mở ra một không gian ký ức sống động, nơi từng chi
tiết – từ buổi lễ mãn
khóa vội vã ngày 21 tháng 4, những chuyến xe GMC rời trường Võ Bị, cho
đến bữa cơm dở dang
giữa tiếng pháo kích – đều trở thành lát cắt của một thời đoạn lịch sử đặc
biệt. Đó là thời khắc
mà tuổi trẻ, danh dự và số phận của một thế hệ bị đặt vào cùng một điểm
giao nhau của chiến
tranh và định mệnh.
Qua những câu chuyện
cụ thể về Tướng Lý Tòng Bá, Đại úy Hiệp, Trung úy Lý A Sáng và
những người lính trẻ
Khóa 29, tác phẩm không chỉ tái hiện đời sống quân ngũ trong những ngày
cuối cùng của Việt
Nam Cộng Hòa, mà còn khắc họa sâu sắc “cái tâm và cái tình” của người
lính: sự dấn thân
không điều kiện, tinh thần kỷ luật, tình huynh đệ chi binh, và sự bình thản trước
sinh tử.
Ở tầng sâu hơn, đây
không chỉ là một hồi ức cá nhân, mà là một nỗ lực ghi lại ký ức tập thể của
một thế hệ “sinh lầm
thế kỷ nhưng sống đúng danh dự”, những người đã bước vào chiến tranh
không phải như một lựa
chọn nghề nghiệp, mà như một bổn phận không thể thoái lui.
“Chuyến Xe Định Mệnh
Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát” vì thế không chỉ là một bài viết
hồi tưởng, mà còn là
một lời tri ân, một chứng tích nhân sinh, và một nén hương tưởng niệm
dành cho một thế hệ
đã đi qua lịch sử bằng chính tuổi trẻ của mình.
Kính mời quý vị cùng
thưởng thức và phổ biến.
Trân trọng,
Tsu A Cầu K29
21/4/2026
+++
KHÓA 29 - TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM
Chuyến Xe Định Mệnh
Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát
Tsu A Cầu
Ngày 21 tháng 4, cách
đây 51 năm, không chỉ là một cột mốc của lịch sử quốc gia, mà còn là
một khoảnh khắc trầm
lặng, khắc vào tâm khảm của mỗi người lính Khóa 29 Trường Võ Bị
Quốc Gia Việt Nam — một
dấu ấn mà càng đi xa, càng thấy rõ cái tâm và cái tình của một thế
hệ sinh ra không đúng
thời, nhưng đã sống đúng nghĩa.
Hôm ấy, chúng tôi “được”
tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy — hai chữ nghe tưởng như vinh dự
trọn vẹn, nhưng lại
mang theo một sức nặng rất khác. Không có nắng vàng rực rỡ của những lễ
mãn khóa năm xưa.
Không có gia đình đứng chờ trong niềm hãnh diện. Không có những cái bắt
tay dài hay những bức
ảnh lưu niệm. Buổi lễ diễn ra nhanh, đơn giản đến mức gần như không
kịp để cảm nhận rằng
mình vừa bước qua một ngưỡng cửa quan trọng của đời người.
Bởi vì ngay sau đó,
bên cạnh vũ đình trường, những chiếc xe GMC đã nổ máy chờ sẵn.
Không ai nói ra,
nhưng ai cũng hiểu: đây không phải là một lễ tốt nghiệp — mà là một cuộc bàn
giao.
Bàn giao tuổi trẻ cho
chiến tranh.
Bàn giao ước mơ cho định
mệnh.
Trong khoảnh khắc ấy,
cái tâm của người lính không chỉ nằm ở những lời tuyên thệ, mà còn
nằm ở sự im lặng rất
đặc biệt: một sự chấp nhận không cần giải thích. Chúng tôi biết đất nước
đang ở vào giờ phút
nguy nan nhất. Biết rằng phía trước không phải chỉ là vinh quang, mà có thể
là đổ vỡ. Vậy mà vẫn
bước lên xe — không chần chừ, không quay đầu.
Đó là sự dấn thân
không lựa chọn.
Nhưng cũng chính là lựa
chọn rõ ràng nhất của một đời người, một người lính hiện dịch.
Cái tình trong ngày
hôm ấy lại càng sâu hơn vì nó không có cơ hội để bộc lộ. Không có thời gian
để nói lời từ biệt với
bạn bè, với người thân, hay với một người nào đó mình thương mà chưa kịp
thố lộ. Có lẽ mỗi người
đều mang theo trong lòng một điều chưa nói, một ánh mắt chưa kịp nhìn
lại — và chính những
điều chưa trọn vẹn ấy lại trở thành hành trang nặng nhất khi bước ra chiến
trường.
Ngày hôm đó cũng là
ngày biến động ở thượng tầng quốc gia — khi vị Tổng thống từ chức, và
quyền lực chuyển giao
trong bối cảnh đầy bất trắc. Nhưng giữa những biến chuyển lớn lao ấy,
hình ảnh những tân sĩ
quan trẻ tuổi thản nhiên, hiên ngang bước lên xe GMC lại mang một ý
nghĩa rất khác: đó là
sự tiếp nối của một lý tưởng, được giữ bằng danh dự chứ không phải bằng
hoàn cảnh.
Sự hào hùng của Khóa
29 không nằm ở nghi lễ.
Mà nằm ở chỗ: biết rõ
con đường phía trước là gì — mà vẫn đi.
Không phải vì không sợ.
Mà vì không thể làm
khác. Đó là: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.
Năm mươi mốt năm trôi
qua, mọi thứ đã đổi thay. Những con đường xưa, những doanh trại cũ,
những khuôn mặt quen
— tất cả đều đã lùi vào ký ức. Nhưng có những âm thanh không bao giờ
tắt. Đó là tiếng động
cơ GMC năm ấy, không chỉ đưa chúng tôi rời khỏi cổng trường, mà còn
đưa cả một thế hệ đi
vào một đoạn đời không thể quay lại.
Và có lẽ, điều còn lại
sau tất cả không phải là tiếc nuối.
Mà là một sự bình thản
rất lạ: Rằng trong khoảnh khắc định mệnh nhất của đất nước,
chúng tôi đã có mặt.
Và đã không quay
lưng.
II. Trách Nhiệm Và Sẵn
Sàng: Lời Thề Của Những Người Lính Giờ Thứ 25
Có người nói chúng
tôi đã chọn lầm nghề lính. Nhưng với chúng tôi, điều đó chưa bao giờ đúng.
Khi đất nước lâm
nguy, người thanh niên không còn đứng trước một “nghề nghiệp” để lựa chọn,
mà đứng trước một bổn
phận. “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách” — câu nói ấy không phải
là khẩu hiệu, mà là một
tiếng gọi từ bên trong. Chúng tôi bước vào quân trường Võ Bị, nơi rèn
luyện cả văn lẫn võ,
không phải để tìm vinh quang, mà để chuẩn bị cho một điều mà chính mình
cũng không thể đoán
trước. Nếu có điều gì “lầm”, thì có lẽ chỉ là chúng tôi đã sinh ra trong một
thời điểm mà số phận
của cả một dân tộc đang nghiêng ngả.
Ngày trình diện đơn vị,
chúng tôi đến với một tư thế rất nghiêm trang: trách nhiệm và sẵn sàng.
Tại Bộ Chỉ Huy Sư
Đoàn 25 Bộ Binh, chúng tôi đứng chờ vị Tư lệnh — người anh hùng của trận
Kontum, Tướng Lý Tòng
Bá — trở về từ mặt trận. Nửa tiếng đứng nghiêm, rồi thao diễn nghỉ để
nghe ông nói chuyện,
không phải là một buổi huấn thị, mà gần như là một cuộc truyền lửa.
Trong giây phút đó,
giữa khói lửa và những tin tức dồn dập của chiến trường, chúng tôi vẫn cảm
nhận được một thứ gì
đó rất người: cái tình của đàn anh dành cho đàn em. Lời hứa cho 24 giờ
phép về thăm gia
đình, trong hoàn cảnh ấy, không còn là một ân huệ, mà là một sự thấu hiểu —
rằng mỗi người lính
trẻ bước ra trận đều mang theo sau lưng một mái nhà, một người mẹ, hay
một bóng hình người
thương.
Nhưng chiến tranh
không cho phép người ta giữ lâu những xúc cảm ấy. Ngay sau đó là những
chọn lựa đơn vị —
Trinh sát hay các Trung đoàn. Tôi chọn Trinh sát, như một phản xạ tự nhiên
của tuổi trẻ muốn đi vào
nơi hiểm nguy nhất. Nhưng rồi phải nhường lại vị trí duy nhất ấy cho
một đàn anh khóa 28.
Một chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng nhanh chóng được thay thế bằng sự
chấp nhận. Trong quân
đội, kỷ luật không phải là điều áp đặt từ bên ngoài, mà là điều người ta tự
đặt lên chính mình.
Tôi chuyển về Tiểu đoàn 1 — nơi mà sau này tôi mới biết, cả Thủ khoa khóa
29 cũng chọn đứng vào
hàng ngũ. Người giỏi nhất Khóa 29, rốt cuộc, cũng gặp lại những nơi
nóng nhất.
Bữa cơm trưa đầu tiên
tại Trung đoàn 46 đáng lẽ phải là một khoảnh khắc tạm yên trước khi vào
trận. Nhưng chiến
tranh không có những khoảng lặng như thế. Pháo kích bất ngờ rơi xuống,
ngay giữa hồ nước
trong khu Bộ chỉ huy. Tiếng nổ vang lên giữa ban ngày, ngay khi chúng tôi
còn đang cầm chén cơm
trên tay. Điều lạ lùng không phải là tiếng pháo — mà là sự bình tĩnh của
những người xung
quanh. Các sĩ quan đàn anh vẫn ngồi đó, không hoảng loạn, không hấp tấp. Vị
Trung đoàn trưởng,
Trung tá Nghiêm K18, nhìn chúng tôi, hỏi một câu rất đơn giản: “Có thiếu
úy nào biết hướng
pháo từ đâu không?” Không ai trả lời. Chúng tôi ngơ ngác. Và trong khoảnh
khắc đó, chúng tôi hiểu
ra một điều: chiến trường không chỉ cần lòng can đảm, mà cần một cái
đầu lạnh — một sự tỉnh
táo ngay giữa lằn ranh sinh tử.
Rồi ông nói, rất bình
thản, như đang kể một chuyện quen thuộc: dạo này pháo rơi mỗi ngày, và
thường nhắm vào chính
cái hồ ấy. Sau đó là lời dặn về việc ôn lại cách sử dụng M72, vì xe tăng
đối phương đã bắt đầu
xuất hiện thường xuyên. Một bữa cơm trưa, nhưng lại là bài học nhập
môn đầu tiên của chiến
tranh: không có gì là bất ngờ, chỉ có người chưa kịp chuẩn bị.
Nhìn lại, tất cả những
điều ấy — từ việc nhường một vị trí mong muốn, đến việc đứng yên giữa
tiếng pháo — đều
không phải là những chi tiết rời rạc. Nó là một chuỗi những thử thách nhỏ, dồn
dập, để biến một người
lính mới thành một người lính thực sự. Không phải bằng những lời dạy,
mà bằng chính hoàn cảnh.
Có thể cuộc chiến đã
kết thúc chỉ ít ngày sau đó. Có thể lịch sử sẽ nhìn vào kết quả để phán xét.
Nhưng đối với chúng tôi,
điều còn lại không nằm ở thắng hay thua. Mà nằm ở chỗ: trong những
ngày cuối cùng ấy,
chúng tôi đã sống đúng với điều mình tin. Đã trình diện với trách nhiệm. Đã
đứng vào hàng ngũ khi
mọi thứ đang sụp đổ. Và đã giữ được cái tâm của người lính — bình tĩnh
trước hiểm nguy, và
giữ cái tình của con người — biết nghĩ đến gia đình, đến đồng đội, ngay
trong lúc cận kề sinh
tử.
Nếu gọi đó là một lựa
chọn, thì đó là lựa chọn mà chúng tôi không hối tiếc.
III. Tư Thế Đứng Yên
Giữa Vòng Vây: Cái Tĩnh Của Người Lính Võ Bị
Không phải tất cả những
tiếng nổ đều mang theo chết chóc. Có những tiếng nổ, như buổi trưa
hôm đó, chỉ làm mặt
nước hồ tung tóe rồi lặng xuống rất nhanh — như thể chiến tranh cũng có
lúc… chùn tay. Quả
pháo rơi trúng đúng tọa độ quen thuộc, nơi đơn vị đã đóng quân một thời
gian dài. Không ai bị
thương. Không ai giật mình. Tiếng nổ không đủ gần để làm chấn động thân
thể, nhưng lại đủ để
khắc sâu một cảm giác rất lạ: chiến tranh đang ở ngay đó, nhưng chưa chạm
đến mình — như một
bàn tay đã giơ lên, mà còn chưa giáng xuống.
Dần dần, chúng tôi hiểu
ra: đó không phải là một sự tình cờ. Có lẽ đối phương đã có sẵn tọa độ,
nhưng không nhằm tiêu
diệt. Những loạt pháo ấy giống như một cách “điểm danh”, một lời nhắc
nhở rằng họ đang ở rất
gần. Người ta bắt đầu bàn với nhau — có thể họ không muốn mở thêm
những trận đánh tiêu
hao. Mục tiêu của họ là Sài Gòn, là những trục tiến quân lớn. Những đơn vị
như chúng tôi, nếu
không chặn đường, thì chỉ bị giữ lại ở một khoảng cách vừa đủ để không thể
can thiệp.
Chiến tranh, đến lúc
đó, không còn là những trận đụng độ dữ dội như trước. Nó trở thành một
cuộc đối diện âm thầm.
Ban đêm, cái im lặng ấy
càng trở nên rõ rệt.
Trong màn sương dày của
miền Đông, những chiếc xe tăng phía bên kia bất ngờ bật đèn pha, ánh
sáng trắng quét ngang
không gian như những lưỡi dao. Tiếng máy gầm lên, kéo dài, không phải
để tấn công — mà để
báo hiệu: chúng tôi đang ở đây. Không có phát súng nào. Không có cuộc
xung phong nào. Chỉ
có hai phía nhìn nhau qua bóng tối, mỗi bên giữ chặt vị trí của mình, như
những người chơi cờ
đã đến hồi quyết định nhưng chưa ai muốn đi nước cuối.
Trong cái thế “gườm
nhau” đó, người lính học được một thứ cảm giác rất đặc biệt:
không phải là sợ — mà
là chờ.
Chờ một mệnh lệnh.
Chờ một biến động.
Chờ một điều gì đó lớn
hơn tất cả những gì đang diễn ra trước mắt.
Chúng tôi vẫn ăn cơm.
Vẫn sinh hoạt. Vẫn trình diện cấp chỉ huy. Mọi thứ diễn ra gần như bình
thường — nhưng bên dưới
cái bình thường ấy là một lớp căng thẳng rất mỏng, chỉ cần chạm nhẹ
là vỡ.
Và có lẽ, chính trong
những giờ phút tưởng như tĩnh lặng ấy, cái tâm của người lính hiện ra rõ
nhất. Không phải
trong lúc xung phong, mà trong lúc biết rõ đối phương đang ở rất gần — mà
vẫn đứng yên, giữ vị
trí, không dao động. Không phải vì không hiểu tình thế, mà vì đã chấp nhận
nó.
Cái tình cũng nằm ở
đó.
Là bữa cơm ăn dở
nhưng không ai bỏ.
Là ánh mắt nhìn nhau
mà không cần nói.
Là sự tin tưởng rằng
dù chuyện gì xảy ra, mình cũng không đứng một mình.
Sau này nghĩ lại, những
đêm đèn pha rọi sáng và tiếng máy xe tăng gầm lên trong bóng tối
không chỉ là một thủ
thuật tâm lý của đối phương. Nó còn là dấu hiệu của một giai đoạn mà
chiến tranh đã đi đến
giới hạn của nó — nơi mà cả hai bên đều biết một điều gì đó rất lớn sắp
xảy ra, nhưng chưa ai
nói ra.
Đó không còn là chiến
trường của những trận đánh.
Mà là khoảng lặng trước
khi lịch sử tự khép lại một chương.
IV. Ngàn Trái Đạn Đêm
Qua Và Chén Rượu Tình Chến Hữu Hôm Nay
Đêm đó, giữa cái
không khí căng thẳng của chiến trường, chúng tôi lại gặp một điều rất… đời.
Sau khi trình diện tại
Bộ Chỉ Huy Trung đoàn, đám sĩ quan mới “tản hàng” ra phía sau. Chính
trong cái khoảnh khắc
tưởng như bình thường ấy, tôi bất ngờ gặp lại một người quen — Trung
úy Lý A Sáng, pháo đội
trưởng 105 ly, lại còn là bà con xa bên phía gia đình.
Anh nhìn tôi, ngạc
nhiên thật sự:
“Ủa, mày ra trường hồi
nào mà về đây?”
Tôi kể nhanh tình
hình. Anh nghe xong, không hỏi thêm gì nhiều, chỉ nói một câu rất gọn —
nhưng đến giờ tôi vẫn
nhớ:
“Thiếu úy bộ binh thì
cực lắm… tối nay xuống hầm tao mà ngủ.”
Tôi hỏi lại, cũng rất
thật:
“Thế anh ngủ đâu?”
Anh trả lời tỉnh bơ,
như không có gì đáng nói:
“Mày lo tao làm gì…
tao bắn tụi nó suốt đêm.”
Câu nói đó, lúc nghe
qua tưởng như một câu đùa, nhưng thực ra là sự thật trần trụi của chiến
tranh.
Đêm nào pháo binh
cũng bắn. Không phải vài trái, mà có khi hàng ngàn trái 105 ly — bắn đi
trong bóng tối, theo
những tọa độ gọi về từ các đơn vị bạn. Không thấy mặt nhau, nhưng từng
quả đạn bay đi là một
lời đáp: tụi tôi còn đây, tụi tôi đang giữ cho anh em.
Cái tình lính, nhiều
khi không nằm ở những lời lớn lao.
Nó nằm ở chỗ: một người
thức để người khác có thể ngủ.
Tôi xuống hầm của
anh.
Bên ngoài, tiếng pháo
vẫn dội lên từng chập — không phải tiếng nổ của hoảng loạn, mà là nhịp
làm việc đều đặn, lạnh
lùng, chính xác. Mỗi tiếng nổ là một lần anh và đồng đội của anh đang
“nói chuyện” với chiến
trường, giữ cho những đơn vị ngoài kia không bị nuốt chửng trong bóng
đêm.
Không biết tôi có ngủ
được bao lâu.
Chỉ nhớ rằng, giữa những
tiếng pháo ấy, có một cảm giác rất lạ:
mình không cô độc.
Sau này, khi chiến
tranh đã lùi xa, gặp lại nhau trong những bàn nhậu ồn ào, tôi thường đem
chuyện cũ ra chọc anh
trước mặt mọi người:
“Hồi xưa anh làm pháo
đội trưởng, bắn cả ngàn trái một đêm… còn bây giờ, không biết bao lâu
anh mới bắn một
trái?”
Cả bàn cười ồ.
Anh Sáng chỉ cười trừ,
nâng ly, không nói gì.
Nhưng ai hiểu chuyện
thì đều biết —
đằng sau câu nói đùa
đó là cả một thời tuổi trẻ đã cháy hết mình trong những đêm không ngủ.
Và có lẽ, cái đáng
quý nhất không phải là anh đã bắn bao nhiêu trái đạn.
Mà là: trong những
đêm như thế,
anh đã đứng đó —
để cho những người
khác còn có thể đứng vững.
V. Giờ Thứ 25: Khi
Danh Dự Được Đo Bằng Sự Dấn Thân Tận Cùng
Anh Lý A Sáng không
phải là một người lính bình thường. Anh xuất thân từ Thiếu Sinh Quân —
một môi trường mà người
ta vẫn gọi nửa đùa nửa thật là lò “ươm lính”. Ở đó, nhiều huấn luyện
viên là người Nùng,
và chính học trò người Nùng cũng không ít. Cái chất “lính rừng” — lì, gan,
và ít nói — dường như
đã ngấm vào anh từ rất sớm. Những người như anh, hay như Tướng Lý
Tòng Bá, mang trong
mình một thứ bản năng chiến đấu gần như tự nhiên.
Có lẽ vì vậy mà đêm
đó, khi anh nói:
“Để tao bắn tụi nó suốt
đêm,”
nghe nhẹ như không —
nhưng lại nặng như một lời cam kết.
Sáng hôm sau, khi
chúng tôi còn chưa kịp sắp xếp lại mọi thứ trong đầu, thì một chiếc Jeep đã
lao tới gần câu lạc bộ
của căn cứ. Xe thắng gấp, bụi đỏ tung lên mù mịt.
Một Đại úy bước xuống.
Ông không vòng vo. Hỏi
thẳng:
“Ở đây có hai thiếu
úy Võ Bị mới trình diện?”
Sau vài câu xác nhận,
chúng tôi mới biết đó là Đại úy Hiệp — Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1.
Ông đến… để “nhận người”.
Sau này nghĩ lại, cái
cách ông xuất hiện hôm đó không khác gì một người đi “giành quân”. Đơn
vị đang thiếu sĩ
quan. Nghe tin có hai thiếu úy mới ra trường — lại có cả Thủ khoa Khóa 29 —
ông lập tức lên xe đi
ngay. Có lẽ trong đầu ông chỉ có một ý nghĩ rất thực tế: chậm một chút là
có thể mất người vào
tay đơn vị khác.
Trên đường về đơn vị,
xe chạy qua những đoạn đường bụi mù, Đại úy Hiệp quay sang nói, giọng
trầm nhưng rất chân
tình:
“Hai thiếu úy đừng buồn
nếu về đơn vị mà không thấy có đàn anh Võ Bị.”
Tôi hỏi lại:
“Sao vậy, thưa Đại
úy?”
Ông trả lời, chậm
rãi, như nói một điều đã thấy nhiều lần:
“Tôi rất thích Võ Bị…
nhưng không ở lâu.”
Rồi ông nói tiếp, với
một nụ cười rất nhẹ — mà đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy có gì đó vừa tự
hào, vừa xót xa:
“Một là đi thật xa…
hai là đi lên chỗ khác.”
Lúc đó, chúng tôi
nghe — nhưng có lẽ chưa hiểu hết.
“Đi thật xa”… là gì?
“Đi lên chỗ khác”… là
gì?
Phải sau này, khi đã
đi qua chiến tranh, người ta mới hiểu:
“đi thật xa” là những
người không bao giờ trở về,
còn “đi lên chỗ khác”
là những người bị chiến tranh đẩy lên phía trước nhanh hơn số phận
bình thường.
Câu nói của ông không
phải là một lời cảnh báo.
Mà là một sự thật được
nói ra bằng giọng bình thản của người đã quen nhìn thấy mất mát.
Nhưng trong câu nói
đó, vẫn có một điều rất rõ:
ông tin vào người
lính Võ Bị.
Không phải vì danh
xưng.
Mà vì ông biết — những
người này, khi cần, sẽ đi tới cùng.
Chiếc Jeep vẫn chạy.
Phía trước là đơn vị.
Phía sau là một đêm
pháo sáng và đèn pha chưa kịp lùi xa.
Còn ở giữa — là hai
thiếu úy trẻ, lần đầu tiên hiểu rằng:
có những con đường, một
khi đã bước lên,
thì không phải lúc
nào cũng có quyền chọn nơi mình sẽ dừng lại.
VI. Lời Dặn Trên Chiếc
Jeep Bụi Mù: Hành Trang Sinh Tồn Của Những Người Lính
Giờ Thứ 25
Lúc đó, nghe Đại úy
Hiệp nói “một là đi thật xa, hai là đi lên chỗ khác”, chúng tôi không nghĩ gì
nhiều.
Không suy diễn.
Không liên tưởng.
Cũng không thấy câu
đó có gì dính dáng đến mình.
Có lẽ vì còn quá mới.
Có lẽ vì chưa kịp
hình dung chiến tranh sẽ đi đến đâu.
Hoặc đơn giản — vì
lúc đó, điều quan trọng nhất không phải là nghĩ xa, mà là học cách đứng
vững ngay trước mắt.
Tôi hỏi tiếp, rất thật:
“Thưa Đại úy, tụi tôi
mới ra trường… chắc còn nhiều điều phải học. Đại úy có gì dặn dò
không?”
Ông không nói những
điều lớn lao.
Không chiến thuật cao
siêu.
Không bản đồ hành
quân.
Chỉ nói những điều rất
cụ thể — mà sau này mới hiểu, đó là những thứ giữ mạng sống cho người
lính:
“Khi hành quân, luôn
để hai thằng lính khinh binh có kinh nghiệm đi trước… làm antenna.”
Ông ngừng một chút, rồi
nói tiếp:
“Phải lắng nghe mấy
ông hạ sĩ quan thâm niên. Mỗi vùng mỗi khác… bài học quân trường
không giống ngoài
này.”
Những câu nói đó, lúc
nghe qua tưởng như bình thường.
Nhưng thật ra, đó là
ranh giới giữa lý thuyết và sinh tồn.
Trong quân trường,
người sĩ quan học cách chỉ huy.
Ngoài chiến trường,
người sĩ quan phải học cách lắng nghe.
Không phải ai cấp bậc
thấp hơn cũng biết ít hơn.
Có những người lính
đi trước, họ không có cấp bậc cao —
nhưng họ biết chỗ nào
có thể... chết.
Và chính họ là
“antenna” —
không phải bằng máy
móc,
mà bằng kinh nghiệm
tích tụ từ những lần suýt không còn trở về.
Đại úy Hiệp nhìn qua
chúng tôi, rồi bất chợt nhận xét, giọng có chút tò mò:
“Tôi ngạc nhiên… Thủ
khoa mà tên như con gái — Đào Công Hương… mà lại hiền, nghiêm.”
Ông quay sang tôi:
“Còn anh… họ tên lạ.
Người cũng lạ.”
Tôi không trả lời gì.
Không phải vì không
biết nói gì —
mà vì lúc đó, thấy
cũng… bình thường.
Trong quân trường, mỗi
người một gốc gác.
Ra chiến trường, chỉ
còn một chuyện: đi được bao xa và đứng được bao lâu.
Chiếc Jeep vẫn chạy.
Bụi đỏ phía sau cuốn
lên, che lấp con đường vừa đi qua.
Phía trước, đơn vị
đang chờ.
Còn chúng tôi — hai
thiếu úy mới ra trường —
không nghĩ đến “đi
xa” hay “đi lên”.
Chỉ biết rằng, từ lúc
đó trở đi,
mọi bài học sẽ không
còn nằm trên giấy nữa.
Mà nằm… ở từng bước
chân sắp tới.
VII. Bữa Cháo Lòng
Ven Đường Và Người Chỉ Huy “Rảnh Tay”
Người ta thường nói
tôi “khác lạ”.
Có lẽ vì cái giọng
nói, vì cách phát âm, hay vì dáng vẻ bên ngoài — nhiều người khi mới gặp
thường có một ấn tượng
nào đó, rồi sau này quen mới thấy… không giống như họ nghĩ. Tôi cũng
không để ý nhiều. Ở
trong quân đội, chuyện đó không quan trọng.
Điều quan trọng hơn
là mình đứng ở đâu, và đứng như thế nào.
Trên xe, Đại úy Hiệp
hỏi:
“Sao hai thiếu úy lại
chọn về Tiểu đoàn 1/46?”
Chúng tôi trả lời rất
đơn giản:
“Dạ, vì gia đình ở
Sài Gòn.”
Không có lý tưởng gì
cao siêu trong câu trả lời đó.
Chỉ là một điều rất
thật: đi đâu thì cũng muốn gần nhà.
Ông không nói gì
thêm.
Chỉ gật đầu.
Chiếc Jeep chạy một
đoạn, rồi ghé vào một khu chợ ven đường. Một quán cháo lòng nhỏ, đơn
sơ. Đại úy bảo dừng lại,
quay sang nói:
“Ở đây có chỗ ăn cháo
ngon lắm… đi ngang là tôi ghé.”
Anh tài xế được dặn ở
lại coi xe.
Chúng tôi bước vào,
ngồi xuống như những người đi đường bình thường — không có gì cho
thấy ngoài kia chiến
tranh đang áp sát.
Tô cháo bốc khói.
Không ai vội.
Chúng tôi vừa ăn, vừa
nói chuyện.
Giữa những câu chuyện
đó, Đại úy Hiệp nói một điều rất nhẹ:
“Gia đình tôi cũng ở
Sài Gòn… nhưng vợ con đã qua Pháp rồi. Bên vợ nài nỉ… nên họ phải đi.”
Ông ngừng một chút, rồi
nói tiếp, giọng vẫn bình thản:
“Bây giờ tôi rảnh
tay… ở lại đánh tiếp.”
Không có vẻ gì là hy
sinh.
Không có vẻ gì là quyết
định lớn.
Chỉ là một câu nói,
như thể đó là chuyện đương nhiên.
Chúng tôi nghe — và
im lặng.
Không ai hỏi thêm.
Không ai bình luận.
Nhưng trong lòng, cả
hai đều hiểu:
cái “rảnh tay” đó
không nhẹ như cách ông nói.
Đó là khi một người
đã gửi gia đình ra ngoài vòng nguy hiểm,
để chính mình ở lại
trong phần còn lại của cuộc chiến.
Bữa cháo hôm đó vẫn
ngon như ông nói.
Nhưng có lẽ, cái làm
người ta nhớ không phải là vị cháo —
mà là cái không khí của
buổi ăn.
Ba người lính ngồi với
nhau.
Không nói chuyện lớn.
Không bàn chiến sự.
Chỉ chia sẻ những điều
rất gần — gia đình, nơi ở, đường đi.
Nhưng chính những điều
đó lại làm cho một điều khác trở nên rõ ràng:
chúng tôi bắt đầu tin
người chỉ huy của mình.
Không phải vì ông ra
lệnh giỏi.
Mà vì ông sống thật.
Một sự kính trọng và
cảm phục thật sự.
Sau này, nghĩ lại, bữa
cháo lòng ven đường đó giống như một buổi “nhập đơn vị” không chính
thức.
Không có nghi thức.
Không có chào cờ.
Chỉ có một người đi
trước,
ngồi ăn cùng hai người
đi sau,
và bằng vài câu nói
giản dị —
đã cho họ thấy mình
là ai.
Chiếc Jeep lại lăn
bánh.
Phía trước là đơn vị.
Phía sau là một quán
cháo nhỏ, không tên.
Nhưng có những thứ, một
khi đã ngồi xuống cùng nhau như vậy,
không còn là người xa
lạ nữa.
Thế rồi chúng tôi
cùng nhau đi vào nơi gío cát.
Danh dự soi đường, chẳng
hướng lui."
"nơi gió
cát" của cuộc đời với một tư thế hiên ngang nhất.
Tsu A Cầu
21/4/2026










