728x90 AdSpace

Smiley face
  • Latest News

    SỐ ĐẶC BIỆT DIỄN ĐÀN TVBQGVN QUỐC HẬN 30-4-2026 VIỆT NAM CỘNG HÒA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÁP ĐỊNH THÔNG ĐIỆP TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2026



    !!!!!! TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM - THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY [VNMA] !!!!!!

    !!!!!! DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, NƠI QUY TỤ NHỮNG CSVSQ VÕ BỊ, CHIẾN HỮU,

    THÂN HỮU CÒN LÝ TƯỞNG VÀ DANH DỰ, KHÔNG VỀ VIỆT NAM KHI CÒN VIỆT CỘNG !!!!!!





      Việt Nam Cộng Hòa
                                                                  Thủ Tướng Chính Phủ Pháp Định 
                                     Freedomforvn1975@aol.com
          Thông Điệp Nhân Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4-2026                 

    Vấn đề của Việt Nam hiện nay, dù nhìn dưới khía cạnh nào chăng nữa thì cũng không thể phủ nhận, đó là vấn đề Việt Nam bị tước đoạt quyền “Dân Tộc Tự Quyết” (Right to Self-determination) phần vì Thực dân, phần khác vì Cộng sản.

    1-Sau thế chiến thứ hai (1939-1945), đa số các quốc gia bị trị được trả tự do. Hiệp ước Pháp-Việt ngày 5-6-1948 tại Vịnh Hạ Long công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập. Trước 1954, Việt Nam là một quốc gia thống nhất, dù tự do bị hạn chế, nhưng không đến nổi tự do bị huỷ diệt. Nhưng khi mặt trận Việt Minh thưc thi chính sách Cộng sản hoá Đông Dương thì người dân phải bán tài sản, kể cả ruộng vườn, trâu, bò để đóng thuế nông nghiệp cho Việt Minh. Thậm chí làm thịt gà cúng giổ tổ tiên cũng phải xin phép. Người dân bị Việt Minh khủng bố đến tận xương tuỷ.  Việt Minh đấu tố địa chủ để cướp tài sản. Sát hại lãnh tụ các chính đảng để độc quyền cai trị, tiêu diệt tự do tôn giáo để dành độc quyền tôn thờ các lãnh tụ Cộng sản vô thần.  Hôm nay, lỡ lời hỏi bè bạn “Hồ Minh nhưng hình mô?” là ngày mai thấy đầu bác lý bị treo tòng teng trên cổng chợ. Việt Minh hay đảng cộng sản là một tổ chức khủng bố và khuynh đảo, mượn danh nghĩa giải phóng để tước đoạt quyền sống của con người.

    2-Cộng sản biết, nếu để cho tình hình chính trị thế giới diễn biến hòa bình một cách tự nhiên thì bất lợi cho phe Cộng Sản. Nếu Việt Nam được trả tự do thì Việt Minh sẽ không còn có lý do tồn tại. Vì thế, khối Cộng Sản Quốc Tế đã giúp Hồ Chí Minh gấp rút áp đảo căn cứ Điện Biên Phủ, dù phải hy sinh xương máu của 30 ngàn thanh niên Việt Nam, để áp lực đưa vấn đề Việt Nam ra bàn Hội nghị Geneva năm 1954. Dự mưu của Việt Minh Cộng sản nhằm cộng sản hoá toàn cõi Việt Nam.  Những âm mưu này không thực hiện được vì sợ phản ứng của Hoa Kỳ nên Thực dân và Cộng sản đã đơn phương ký kết Hiệp Định Geneva, chia cắt VN thành hai Miền: Miền Nam (dân chủ tự do) và Miền Bắc (độc tài cộng sản) để giành một nửa giang sơn cho phe Cộng Sản trái với nguyện vọng của toàn dân Việt Nam.  Nhân dân Miền Bắc, một nửa giang sơn và một nửa dân tộc Việt Nam, đã bị tước đoạt mất quyền tự quyết, buộc lòng phải sống dưới ách độc tài Cộng sản từ năm 1954.

    3-Để chấm dứt cuộc chiến do loạn đảng Cộng sản Bắc Viêt phát động từ năm 1960 chống Miền Nam Viêt Nam, Hoà Ước ngưng chiến được ký kết tại Ba Lê ngày 27 tháng 1 năm 1973 quy định các quốc gia ký kết phải tôn trọng quyền dân tộc tự quyết của Miền Nam hay Viêt Nam Công Hoà.  Nhưng đến năm 1975, Cộng Sản Hà nội đã vi phạm Hoà Ước Ba Lê và xâm lăng VNCH ngày 30/4/1975.

    Nhân sự của các chính phủ có liên hệ ngoại giao với VNCH trước 1975 đều thay đổi. Chính Phủ Pháp Định, kế tục Chính Phủ VNCH trước 1975 đã và  đang cố gắng liên tục tái lập liên lạc và với các quốc gia hội viên của Liên Hiệp Quốc với khoảng 190 quốc  gia để yêu cầu các quốc gia hỗ trợ nhân dân Miền Nam Việt Nam tổ chức một cuộc bầu cử tự do để nhân dân chuyển chọn một chính quyền tôn trọng tự do, dân chủ  cho nhân dân Việt Nam chiếu theo các điều khoản đã được quy định trong  Hòa Ước Ba Lê  năm 1973. 

    4-Chính Phủ Pháp Định và Sách Lược Phục Hồi Quyền Dân Tộc Tự Quyết

    “Việc nước cốt ở yên dân. Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo”.

    Sau hon 50 năm định cư tại các quốc gia tự do, Cộng Đồng Việt Nam Hải Ngoại đã hình thành các định chế xã hội từ cấp thành phố, tiều bang, liên bang, quốc gia, đáp ứng nhu cầu nhân sinh của đồng hương. 
    Về phương diện chính trị và bang giao quốc tế, Chính Phủ Pháp Định Việt Nam Cộng Hòa kế tục, tiếp nối sứ mệnh của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa trước 1975:

    (1)-Quyết tâm phục vụ quý vị đồng hương tại năm châu bốn bể trong moị khía cạnh nhân sinh vì ngày nay đâu đâu cũng in hình dấu vết của con cháu Lạc Hồng. 

    (2) Chính phủ thi hành các biện pháp giúp tái lập tự do, dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam bằng cách vận động quốc tế, yêu cầu các quốc gia ký vaò Hiệp Định Ba Lê thực thi những điều khoản đã ký kết hầu phục hồi quyền dân tộc tự quyết đề nhân dân Việt Nam tuyển chọn thể chế chính trị theo nguyện vọng chung của toàn dân. 

    (3) Hỗ trợ các lực lượng, đồng bào quốc nội tranh đấu cho nhân quyền tại Việt Nam.

    Ngày nay, cuộc chiến vũ khí tạm ngưng, nhưng cuộc chiến nhân quyền để tái lập tự do, dân chủ, hạnh phúc cho toàn dân Việt Nam đang được phát động mạnh mẽ khắp năm châu, bốn bể,  bằng phương tiện công pháp quốc tế đã được các quốc gia đã cam kết  trong Hiệp Ước Ba L ê ký ngày  21 tháng 7 năm 1973.  

    Tập thể Dân-Quân-Cán-Chính VNCH tại hải ngoại là những chiến sĩ nhân quyền đa năng, đa hiệu, cư ngụ tại các quốc gia tự do đã, đang, chẳng những tham gia vào mọi lĩnh vực sinh hoạt của tập thể đồng hương hải ngoại mà may mắn và quan trọng hơn nữa, chúng ta còn hiện diện trong các cộng đồng, đoàn thể văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị của các quốc gia văn minh bản xứ. Với môi trường thuận lợi như vậy, chúng ta sẽ gây được ảnh hưởng rộng lớn trên chính trường quốc tế mà chế độ CSVN không thể nào cạnh tranh với lực lượng hùng hậu của chúng ta qua ba mặt giáp công:

    5-Vận Động Quốc Tế

    Chúng ta vận động Hoa Kỳ và các quốc gia tự do yêu cầu đặt điều kiện tôn trọng nhân quyền đối với  nhà cầm quyền  Cộng sản  Việt Nam nhân dịp ký các hiệp ước về viện trợ, kinh tế, thương mãi cho Viêt Nam  và yêu cầu các quốc gia tự do thực thi các hiệp ước mà họ đã đích thân ký kết để giành lại quyền Dân Tộc Tự Quyết cho dân tộc Việt Nam.  

    Các quốc gia tự do thường tôn trọng những gì họ đã ký kết, nghĩa là dùng phương thức vương đạo, giấy trắng mực đen. Phương thức bá đạo không phải sở trường của người quốc gia. Mỗi khi quyền lợi bị vi phạm, chúng ta có quyền đặt vấn đề, khiếu nại. Do đó, chúng ta không ngại khi phải yêu cầu các quốc gia tự do thực thi những điều khoản đã ký kết trong Hiệp Định Ba Lê trước sự hiện diện của đại diện Liên Hiệp Quốc, hoàn trả quyền dân tộc tự quyết cho nhân dân Việt Nam như đã được quy định trong các văn kiện quốc tế đã được ký kết liên quan đến Việt Nam.
     
    Chính phủ Pháp Định yêu cầu các nước dân chủ, thành viên Liên Hiệp Quốc hỗ trợ thi hành các điều khoản của Hiệp Định Paris ký năm 1973 chiếu theo các nguyên tắc: 

    a)-Nguyên tắc căn bản của Luật pháp quốc tế phổ quát (Universal International law): “Hiệp ước quốc tế đa quốc gia phải được thi hành.”

    (b)-Công Ước Vienna 23/5/1969:  Hiệp ước quốc tế phải được thi hành như được ấn định qua các điều điều 26 và 53 “cưỡng bách thi hành trọn vẹn -pacta sunt servanda & jus cogens”.

    (c)-Công Luật Hoa Kỳ Public Law 93-559 ngày 30/12/1974 điều 4: “Tái họp Hội Nghị Paris để tìm cách thi hành toàn vẹn các điều khoản của HĐ Paris về phía các phe Việt Nam”

    “To reconvene the Paris Conference to seek full implementation of the provisions of the Agreement of January 27, 1973 on the art of all Vietnamese parties to the conflict” 

    (d)-Định Ước (ACT) ngày 2 tháng 3, 1973 của HĐ Paris ngày 27 tháng 1, 1973 qui định: 
     
    Điều IV Định Ước: “Các phe ký kết Định ước này công nhận long trọng và tôn trọng triệt để các quyền quốc gia căn bản của dân tộc Việt Nam, như nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam cùng với quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam.”                                                 
     
    Điều V Định Ước : “Vì quyền lợi lâu dài của hòa bình ở Việt Nam, các phe ký kết Định Ước này kêu gọi tất cả các quốc gia tôn trọng triệt để các quyền quốc gia căn bản của dân tộc Việt Nam như nền độc lập, chủ quyền, sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam, và tôn trọng triệt để Định Ước và các phiên bản bằng sự tự chế các hành động không phù hợp với các điều khoản của định ước”. 

    Điều VII (b):” Hội nghị Paris sẽ được tái triệu tập do thỉnh cầu chung của Chính phủ Hoa kỳ và Chính phủ VN Dân Chủ Cộng Hòa thay mặt các phe ký kết Hiệp Định hoặc do thỉnh cầu của sáu hay nhiều hơn, các phe ký kết Định Ước”.

    Điều 9(b) Hiệp Định Ba Lê ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã quy định: “The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”. 

    Ngoài ra, Điều 21 Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền ấn định: 

    (a)“Mọi người đều có quyền tham chính trực tiếp hoặc gián tiếp được tuyển chọn qua các cuộc bầu cử tự do.” Everyone has the right to take part in the government of his country, directly or through freely chosen representatives”. 

    Cộng sản VN khủng bố và cấm đoán người Việt quốc gia ứng cử, các ứng cử viên đều do đảng Cộng Sản đề cử. “Đẳng cử, dân bầu”.
     
    (b) “Mọi người đều có quyền ngang nhau trong việc sử dụng các tiện ích công cộng. “Everyone has the right of equal access to public service in his country”. 

    Cộng Sản VN dành mọi tiện nghi, đặc quyền đặc lợi, dịch vụ công cộng cho cán bộ, đảng viên cộng sản, kỳ thị và kìm kẹp người Việt quốc gia trong mọi dịch vụ, sinh hoạt kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục. 

    (c)  Chính quyền phải lấy ý chí chung của toàn dân làm căn bản, ý chí này sẽ được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự bằng thể thức phổ thông đầu phiếu, kín, hoặc bằng các phương thức bầu cử tự do tương đương.

    ” The will of the people shall be the basis of the authority of government; this will shall be expressed in periodic and genuine elections which shall be by universal and equal suffrage and shall be held by secret vote or by equivalent free voting procedures”. 

    Kết quả nhanh hay chậm còn tùy hoàn cảnh, nhưng còn tốt hơn ngồi than than, trách phận, chê bai lẫn nhau hay nguyền rủa bóng tối. Chúng ta phải vận động tích cực trong tất cả các quốc gia có người Việt cư ngụ, vận động đồng loạt và liên tục. Nếu đã bắt đầu nhưng chưa thành công, thì phải bắt đầu lại, như Platon đã nói: “Hãy bắt đầu vì đó là ngưỡng cửa của sự thành công”. 

    6- Quân Vận 

    Chiêu hồi quân đội nhân dân quay súng, trở về với chính nghĩa quốc gia, chống lại chủ nghĩa Cộng sản ngoại lai do bọn chính trị gia xôi thịt, tay sai của Trung Cộng, đang đưa vận mệnh Việt Nam đến chốn diệt vong, bị Hán hoá, và trở thành nô lệ cho Trung Cộng. Trong quá khứ chính sách chiêu hồi của VNCH đã thề hiện tinh thần nhân đạo của chính nghĩa quốc gia.

    7-Vận động các tổ chức Dân sự:

    Vận động đồng bào quốc nội bằng cách tích cực hỗ trợ các đoàn thể tôn giáo, xã hội, nghiệp đoàn, sinh viên, học sinh, các nhà đấu tranh cho nhân quyền đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam. Mỗi khi đồng bào ta ở quốc nội bị đàn áp, chúng ta hãy đồng loạt lên tiếng trên toàn thế giới, tố cáo tội ác của Công sản, trong tinh thần “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ”.
     
    Cộng sản Hà nội tự biên tự diễn, thống trị toàn cõi Việt Nam, không do ý chí của toàn dân Việt Nam tấn phong thể hiện qua các cuộc bầu cử tự do.

    Đảng Cộng Sản xâm lăng Việt Nam đã hình thành một giai cấp tài phiệt mới và quyết tâm phân chia đặc quyền, đặc lợi giữa các đảng viên, để “áo xiêm buộc trói lấy nhau”, thống trị đất nước trong cảnh bần cùng hóa nhân dân, khiến cho Việt Nam trở thành nghèo khổ nhất thế giới. Cộng sản rất sợ nhân dân giàu mạnh, vì phú quý sinh lễ nghĩa, đồng baò sẽ đòi hỏi tự do, dân chủ và mỗi khi giàu mạnh sẽ có đủ phương tiện lật đổ chế độ cộng sản.

    Tập thể người Việt quốc gia hải  ngoại tiếp tục đẩy mạnh nỗ lực góp sức cùng đồng bào trong nước đứng lên cùng các thành phần Quân Đội Nhân Dân và Công An thức tỉnh trước nguy cơ mất nước, thực hiện cuộc cách mạng chấm dứt chế độ cộng sản, dân chủ hóa quốc gia, huy động toàn thể đồng bào chống  ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, tái thiết xứ sở.  Ba mặt giáp công (Quốc tế vận, Quân Vận, Dân Vận) là sách lược khả thi.  “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại thành hòn núi cao”. Trong tinh thần hiệp nhất, hợp quần gây sức mạnh, chúng ta sẽ chiến thắng.

    Qua kinh nghiệm các cuộc cách mạng lật đổ các chế độ Cộng sản Nga Xô, Đông Âu, các chế độ độc tài đảng trị ở Trung Âu, Trung Đông, Bắc Phi, Nam Mỹ trong vòng ba thập niên nay tất cả đều thành công do dân chúng trong nước đứng lên tranh đấu. Quân đội của các nước này đều ý thức được chính nghĩa của đồng bào họ và trách nhiệm nặng nề nếu sát hại đồng bào chắc chắn sẽ bị đền tội trước quốc dân và thế giới nên đều đứng về phía quần chúng. 

    Dù chủ lực của các cuộc cách mạng bạo động hay bất bạo động là dân chúng trong nước nhưng Việt Nam chúng ta có một lợi thế quan trọng là một số điều khoản trong Định Ước  ngày 2 tháng 3 qua Hiệp Định Paris 27 tháng 1, 1973 mà chúng ta dân, quân, cán, chính VNCH đã và đang nỗ lực vận động Hoa Kỳ và một số các nước ký kết để THI HÀNH, nhất là Đạo luật Hoa Kỳ số 93-559- ngày 30 tháng 12, 1974 đã minh thị phải THI HÀNH TOÀN DIỆN như trình bày trong phần vận động quốc tế. 

    Nếu giải quyết vấn đề chính trị cho Miền Nam Việt Nam theo những điều khoản của Hiệp Định Ba Lê 1973 và bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền thì “Toàn quốc Việt Nam” sẽ được tự do, dân chủ, phú cường và độc lập khỏi bị Hán hoá. Chúng ta hãy dồn nỗ lực vào mục tiêu chính là “Dân Chủ cho Việt Nam” (Democracy for Vietnam) trong tinh thần đánh thức lương tâm nhân loại, gây áp lực với khối Cộng sản qua nhiều lĩnh vực văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, ngoại giao, công pháp quốc tế, bang giao quốc tế từ các đơn vị sinh hoạt địa phương như thành phố, quận, tiểu bang, liên bang, đến cấp quốc gia, hoàn vũ.

    Chỉ có những chính quyền do nhân dân thực sự tự do tuyển chọn mới lưu tâm đến quyền lợi của dân chúng. Đây là vấn đề nhân đạo, là sứ mệnh thiêng liêng biểu lộ lương tâm chính trực. Chúng ta ở hải ngoại chỉ hưởng được hạnh phúc chân chính thực sự khi thấy đồng bào quốc nội được sống trong hạnh phúc.

    8- Bầu Cử Tự Do 

    Điều 9(b) Hiệp Định Ba Lê ký ngày 27 tháng 1 năm 1973 đã quy định: 

    “The South Vietnam shall decide themselves the political future of South Vietnam through genuinely free and democratic general elections under the international supervision – Miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định thể chế chính trị cho tương lai Miền Nam Việt Nam bằng các cuộc bầu cử thực sự tự do và dân chủ dưới sự giám sát quốc tế”.

    Trong trường hợp giải pháp bầu cử tự do được thực hiện, để tránh vấn đề hợp thức hóa chế độ phi nhân CS hiện hữu, câu hỏi mà một số người quan tâm là liệu chúng ta có chuẩn bị đâỳ đủ các lực lượng quần chúng quốc nội và hải ngoại để hỗ trợ giải pháp bầu cử tự do.

    Không ai đơn thương độc mã có thể hoàn thành sứ mệnh. Chúng ta cần có tổ chức, có đủ đại diện tại các quốc gia tự do, tại các tiểu bang có người Việt cư ngụ và tên toàn cõi VN gồm hơn 70 đơn vị hành chính cấp tỉnh và thị xã nhằm âm thầm vận động quần chúng trong công tác “khai dân trí, chấn dân khí”. Phổ biến các tài liệu về quyền Dân Tộc Tự Quyết, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và các văn kiện liên quan đến cuộc chiến đấu toàn diện về các lĩnh vực nhân sinh như văn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, những quyền bất khả xâm phạm của con người, hỗ trợ các nhà tranh đấu cho nhân quyền ở quốc nội, một cách trực diện và qua các phương  tiện truyền thông hiện đại.  Lực lượng nầy gồm những người dấn thân, không phân biệt tuổi tác, giới tính, sinh sống tại hải ngoại hay quốc nội, miễn là có khả năng hoạt động để chuẩn bị tư tưởng quần chúng vì tư tưởng lên khuôn cho hành động, nhằm ứng phó với tình thế biến chuyển và sẵn sàng hỗ trợ chính phủ, do đồng bào quốc nội tấn phong qua thủ tục bầu cử tự do.  

    9- Thống nhất hành động

    Đây là một trong những vấn đề trọng yếu cần sự hổ trợ của các đoàn thể cộng đồng, ái hữu, tôn giáo, xã hội, chính trị, dân, quân, cán, chính hải ngoại và quốc nội để kiện toàn cơ cấu tổ chức, thống nhất hành động, hợp quần gây sức mạnh, vận động nội công, ngoại hợp trong giai đoạn 2, sau 50 năm lưu vong ở hải ngoại.  Được như vậy thì đại nghiệp cứu quốc mới mong chóng được viên thành.  “Hãy bắt đầu, vì bắt đầu là ngưỡng cửa của sự thành công”. Bầu Cử Tự Do thật sự hữu dụng mỗi khi cơ quan tổ chức bầu cử, cử tri, ứng cử viên được hình thành dựa trên động cơ đạo đức cao thượng” Một lòng vì dân, vì nước” qua quá trình:

    (1)-Nghiên cứu hoàn cảnh, môi trường xã hội, kinh tế, chính trị, kiện toàn cơ cấu tổ chức, kỹ thuật, luật lệ tổ chức, điều kiện cử tri, ứng cử viên, chiếu theo nhu cầu của môi trường dân sinh, phát triển xã hội (cách vật); (2)-Hiểu rõ hoàn cảnh văn hoá, xã hội, chính trị, tâm lý quần chúng (trí tri); (3)-Tham gia bầu cử với tư cách cử tri, ứng viên hay nhân viên phòng phiếu với tấm chân tình nhằm mục đích phụng sự xã hội, “thương vì đức, hạ vì dân” (thành tâm); (4)- Khi sự thành tâm đã an định thì không dùng phương pháp lươn lẹo, gian trá, thay trắng, đổi đen, tôn trọng đặc tính liêm khiết của cuộc bầu cử (chánh ý); (5) -Người được vinh danh là người có phẩm hạnh, là người luôn xét mình, tự sửa sai để hoàn thiện trong lời nói và việc làm (tu thân); (6)- Chọn người đại diện một cách công minh, chính trực, thể hiện sự liêm chính, là hành vi nêu gương tốt cho con, cháu, hậu duệ, trong công tác giáo dục, xây dựng nền tảng gia đình (tề gia); (7)- Hổ trợ, giúp đỡ các cuộc bầu cử tự do để sự điều hành được chính trực làm gia tăng giá trị của tập thể, lòng tín nhiệm của đồng bào, sự kỳ vọng của ứng cử viên, trong công tác xây dựng nhân quần xã hội, quốc gia (trị quốc); (8)- Một khi mọi người, mọi nhà, quốc gia, tuân giữ đạo đức truyền thống thì cộng đồng quốc tế được thái bình, thịnh trị, (bình thiên hạ).

    10- Ổn định tình trạng

    Về phương diện xã hội nhân sinh:

    Sau 50 năm định cư tại các quốc gia tự do trên thế giới, tâp thể người Việt quốc gia hải ngoại đã hình thành các định chế xã hội từ cấp thành phố, tiều bang, liên bang, đáp ứng nhu cầu nhân sinh của đồng hương, tương ứng với tổ chức pháp chế thôn, xã, quận, tỉnh.

    Về phương diện chính trị và bang giao quốc tế: 

    Khi quốc gia lâm nguy, quần hùng thường nỗi dậy chống xâm lăng là chuyện thiên kinh điạ nghĩa như đã xảy ra tự cổ chí kim qua lịch sử Việt tộc trên bốn ngàn năm văn hiến, là những cố gắng cần được khích lê,  thay vì “dị ứng” hay chống đối như thái độ của giới thân Cộng hay giới ”Thương nữ vô tri vong quốc hận”.  Vì nếu không có sư quật khởi, tranh đấu cho tự do, dân chủ thì dân tộc khó thoát khỏi tình trạng độc tài đảng trị. Tuy nhiên, các tổ chức cũng cần hoạt động trên căn bản hơp tình và hợp lý về chính sách. 

    Chính phủ Pháp Định (De Jure Government- De Jure có nghĩa là hợp pháp hay pháp định- với nội các “Shadow Cabinet” âm thầm hoạt động trong hoàn cảnh nước mất nhà tan, thực thi sứ mệnh phục vụ trong tinh thần “Tổ Quốc-Danh Dự- Trách Nhiệm”. Vai trò của chính phủ kế tục (state succession) đã được ghi nhận trong lịch sử cận đại, từ thời đệ nhị thế chiến khi quân Đức Quốc Xã xâm lăng các quốc gia Âu Châu. Tại Pháp Quốc, Thống Chế Pétain ra đầu hàng và lập chính phủ thân Đức ở Vichy. Tướng De Gaulle, một vị Tổng Trưởng trong Chính phủ Pháp trước khi quân Đức xâm lăng Pháp quốc, di tản qua Anh Quốc lập chính phủ đối lập lưu vong (Shadow Cabinet), tiếp tục kháng chiến chống Đức Quốc Xã cho đến ngày thắng lợi khi quân Đức đấu hàng năm 1945. 

    Tân Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn (hình trái) ký nhận bàn giao chức vụ Thủ Tướng VNCH từ cựu Thủ Tướng là Đại Tướng Trần Thiện Khiêm. (hình phải:) vào ngày 14-4-1975, Tân Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn trình diện thành phần nội các. (Quốc Vụ Khanh Lê Trọng Quát, người thứ 2, hàng thứ 2 từ trái)

    Hiện nay có Chính Phủ Pháp Định (De Jure Government) kế tục (state successio) chính phủ VNCH trước 1975 và các Chính phủ tự phát sau 1975. Khi quốc gia lâm nguy, quần hùng thường nỗi dậy chống xâm lăng là chuyện thiên kinh điạ nghĩa đã xảy ra tự cổ chí kim qua lịch sử Việt tộc trên bốn ngàn năm văn hiến, là những cố gắng cần được khích lê,  thay vì “dị ứng” hay chống đối như thái độ của giới thân Công hay giới ”Thương nữ vô tri vong quốc hận”.

     (1)- Đốc sự Nguyễn Bá Cẩn, xuất thân từ Trường Sĩ Quan Thủ Đức và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh trong thập niên 1950,  Chủ tịch Hạ  Viện, Quốc Hội  VNCH, được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm làm Thủ Tướng, thay thế Thủ  Tướng Trần Thiên Khiệm là người đã từng hoàn thành và nạp Hồ sơ nới rộng thềm lục địa lên Ủy ban định ranh thềm lục địa của Liên Hiệp Quốc vào năm 2009.  

    (2)-“Qua việc Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn nộp Hồ Sợ Nới Rộng Thềm Lục Địa vào năm 2009 mà Liên Hiệp Quốc đã gián tiếp công nhận VNCH là một chánh thể còn tồn tại. Vì để Liên Hiệp Quốc tiếp nhận hồ sơ này thì phải hội đủ hai điều kiện như sau: 1- Phải nộp hồ sơ với tư cách quốc gia.  2- Phải là quốc gia đã có ký vào Hiệp ước Luật biển (UNCLOS). Để thỏa mãn hai điều kiện trên, cố Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn đã quyết tâm ngày đêm tranh đấu, tìm tòi và cuối cùng đã được Liên Hiệp Quốc chấp nhận hồ sơ…”

    (3)-Chính Phủ Pháp Định VNCH (De Jure Government) là chính phủ duy nhứt kế tục hợp pháp Chính Phủ Viêt Nam Cộng Hoà. (De Jure= hợp pháp hay pháp định). Chính Phủ VNCH đã ký vào Hiệp Định Paris năm 1973, có tư cách yêu cầu tái hợp Hòa Đàm Paris về Viêt Nam để thực thi các điều khoản  ần định liên quan đến VNCH.   Chúng ta rất cần có sự hiện diện của VNCH trong Hội Nghị Quốc Tế vì đó là nhân chứng và cũng là chánh thể VNCH nối tiếp công quyền của Đệ Nhị VNCH. Để thực thi sứ mệnh được giao phó, CPPD hoạt đồng với tinh thần “tam cố thảo lư “.

    (4)- “Chính phủ VNCH Pháp Định sẽ tiếp tục hoat động tại hải ngoại đáp ứng nhu cầu cho thế giới biết Chính phủ VNCH vẫn còn và QLVNCH vẫn còn. CPPĐ ngoài các công tác liên quan đến va1âăn hoá, xã hội, kinh tế, chính trị, đặc biêt chú trong đến vấn nhân quyến,  tiếp tục sứ mêng bang giao quốc tế mà tổ quốc đã giao phó trong công tác vận động, liên lạc với các quốc gia đã từng lập bang giao với Viêt Nam Cộng Hòa trước 1975 và các quốc gia tự do đã ký kết vaò Hòa Ước Ba Lê năm 1973 để yêu cầu tái hơp Hoà  Đàm Ba Lê và thi hành các điều khoản đã ký kết về Viêt Nam. 

    (5)-Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn qua đời năm 2009.  Luật sư Lê Trọng Quát xuất thân từ Đại học Luât Khoa và Trường Sĩ Quan Thủ Đức vào thâp niên 1950– Đệ nhất Quốc Vụ Khanh kế nhiệm vị trí Thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa Pháp Định. Thủ Tướng Lê Trọng Quát qua đời năm 2022.  Đốc sự Trần Xuân Thời, xuất thân từ Đai học Văn Khoa, Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, Trường Sĩ Quan Thủ Đức vào thập niện 1960, và Đai Học Kinh Doanh, Đại học Luật, vào cuối thập niên 1970, Phó Thủ Tướng tiếp tục sứ mênh Thủ Tướng lãnh đạo Chính phủ Pháp Định VNCH hiện nay. 

    (6)-Duy trì Viêt Nam Cộng Hoà và tranh đấu cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thực sự cho toàn dân là mục đích. Chức chưởng và nhiệm vụ, nhân sự đảm nhiệm chức vụ để thi hành vụ là tạm thời, thay đổi qua thời gian.  Công tác tranh đấu cho tự do dân chủ tại Viêt Nam là vấn đề trường kỳ. Chính phủ là tổ chức phục vụ phúc lợi chung của đồng bào, trong tinh thần tôn trọng công lý: Sống lương thiện, không gây tác hại cho người khác và tôn trọng quyền lợi của mỗi người.  “Justice is to live honestly, not to injure others and to give everyone his due”. 

    (7)-Để thực thi sứ mệnh tái lập tự do, dân chủ cho Việt Nam, Chính Phủ Pháp Định kêu gọi sự hỗ trợ và đồng thời sẵn sàng hợp tác với tất cả qúy vị Dân-Quân- Cán-Chính VNCH, các tổ chức tranh đấu quốc gia,  để hầu đaị nghiệp cứu quốc của toàn dân chóng được viên thành. 

    (8)- Đáp một câu hỏi vế vai trò của Chính Phủ Pháp Định nếu có tổ chức bấu cử tự do dưới sự giám sát quốc tế?.  Nhiêm vụ của CPPD là vân động quốc tế thực thi Hoà Ước Ba Lê năm 1973, lập kế hoạch hoàn thành mọi thủ tục bảo đảm cho cuộc bầu cử được công minh và hỗ trợ tân chính phủ được toàn thể đống bào tuyển chon. Xong nhiệm vụ CPPD sẽ từ chức và trao quyền cho tân chính phủ. 

     “Chiếu Hiến Pháp VNCH 1967, điều 52.1: “Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín."  Như vậy, bất cứ ai muốn trở thành Tổng Thống của VNCH đều phải thông qua bầu cử. Từ đó có thể xác định rằng, ai không thông qua cuộc bầu cử này đều là VI HIẾN.

    Đảng Cộng Sản xâm lăng Việt Nam đã hình thành một giai cấp tài phiệt mới và quyết tâm phân chia đặc quyền, đặc lợi giữa các đảng viên, để “áo xiêm buộc trói lấy nhau”, thống trị đất nước trong cảnh bần cùng hóa nhân dân, khiến cho Việt Nam trở thành nghèo khổ nhất thế giới. Cộng sản rất sợ nhân dân giàu mạnh, vì phú quý sinh lễ nghĩa, đồng baò sẽ đòi hỏi tự do, dân chủ và mỗi khi giàu mạnh sẽ có đủ phương tiện lật đổ chế độ cộng sản.

    Trong tinh thần” Tổ quốc- Danh dư - Trách nhiệm” kính mời gọi sự hợp tác của quý vị với Chính Phủ Pháp Định trong công cuộc xây dựng tự do, dân chủ và thịnh vượng cho Việt Nam.                                  
     Xin Ơn Trên phù hộ chúng ta 
    Hải ngoại ngày 30 tháng 4 năm 2026











    https://live.staticflickr.com/65535/52770502936_9f8a88f904_o.png

    TRONG NỖI KHỐN CÙNG CỦA NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA

    *Nguyễn Thế Thăng


    Sau đây là câu chuyện điển hình về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính Cộng Hòa hằng gánh chịu sau ngày mất nước với lòng can đảm bền bỉ tuyệt đối của người luôn vững tin về Lý Chính Nghĩa của Quân/Dân Miền Nam cũng như của toàn Dân Tộc Việt Nam.

    Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Ðông 1975 là một cái Ðông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải vì miền Nam Việt Nam vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay vì lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9/Long Thành, Biên Hòa (Ngã Ba Thái Lan) trong một dãy nhà tôn vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người còn tươi máu.

    Chính từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.

    Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đã không hề có ý định chạy ra nước ngoài. Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Hòa) rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Ðoàn 5 của Ðại Úy Lê Ðình Thạch (trước đây thuộc Sư Ðoàn 5/BB) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Ðộng, Cảnh Sát, Ðịa Phương Quân...

    Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của Việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngỏ mật khu của họ lại với đầy đủ chòi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ còn được dùng để đánh cá vì hệ thống kích hỏa bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường tấn công những kho gạo Tân Bình, Tân Bắc, Trà Cổ... Trước khi vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đình cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh Việt cộng để lấy AK, B40...

    Ðến khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đã có khoảng 80 người. Biết không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia -Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng còn có một toán thuộc Liên Ðoàn Biệt Cách 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Wòng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sát nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu (LM Hiệu sau này đã bị giết chết trong tù). Khoảng tháng 10/75, VC đưa hai trung đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế, đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những chòi trên ngọn cây, bình tĩnh sử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn bốn ngày đêm, chúng tôi đã mất hơn nửa quân số.

    Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng. Ba người theo tôi đi về Phước Long. Ðến 10g sáng (?),chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xã Vĩnh Cửu (?),một trung đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng mười lăm, hai mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngã vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân. Chuẩn Úy Nguyễn Thạch Ðiệp nhất định liều chết để lôi tôi đi... Tôi hét lên, Ðiệp vẫn không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Ðiệp gằn giọng nếu không chạy đi, "tôi phải bắn chú", Ðiệp rớm nước mắt “dạ” rồi vọt liền, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi. Hình như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp cò, một tên khác la lên... “Ðừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó về”. Lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên võng vải nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn VC thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu... Giê-Su Ma!!.

    Toán cộng sản đưa tôi về huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai (Biên Hòa), nhốt tôi trong một căn nhà không có nóc (bị pháo kích sập, chỉ còn bốn bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau). Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ còn một quần lót dính đầy máu đã khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi.

    Ðêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy giờ. Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng vì quá lạnh, sức đã kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bộ đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn đi vì đầu gối chân phải đã bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường nhưng sức không còn. Thử cắn lưỡi thì thú thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi. Tôi bắt đầu la lên chửi rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu não cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như... Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm văn Ðồng, Phạm Hùng, Lê đức Thọ... Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng.... một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô tình mưa rả rích, nước mưa vẫn gõ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng...

    Sáng hôm sau Việt cộng triệu tập một cuộc mít tinh dân chúng huyện Thống Nhất để triển lãm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn mươi xác những “tên ác ôn đã đền tội”. Mười một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số còn lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay cò mồi. Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, bình tĩnh nhếch mép cười khi nghe những tiếng hô đòi tử hình kẻ “tội phạm”. Lúc đó đối với tôi hai tiếng “tử hình” nghe không còn ghê rợn nữa mà thật bình thường vì đó chính là điều tôi mong đợi và chấp nhận như một sòng phẳng tất nhiên.

    Một cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to: Ðả đảo những tên “xâm lăng” (?) khốn nạn, hòa bình không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành... Hãy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!”. Tôi nghĩ mụ này là “Việt cộng cái” giả dạng thôi, lòng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hãy để chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cõi đời ô trọc bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nhìn thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái gì đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, thì ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lý thú và cảm thông rất nhanh. Ðôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch còn dang dở! Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Ðến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có được một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt vời này – Không phải vì đơn thuần quả quít mà vì giá trị khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu.

    Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ miền Bắc tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người đã lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng những tay “giải phóng – Cộng sản người miền Nam” thì thật tàn bạo... Chính nơi đây tôi đã được nhìn thấy thế giới bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng... Tôi đã nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc trên mình dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh bằng, hình như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đã nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quãng đời đã qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài lòng, thảnh thơi trước những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều bất thiện. Có lẽ đó là “Tòa Phán Xét” theo giáo lý đạo Thiên Chúa.

    Có thể đó chính là Niết Bàn và Ðịa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đã nghe và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đã thấy những con cá giành ăn và nghe chúng cãi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ chết nữa, trái lại còn mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi như tỉnh ngộ và nhận rõ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đã thoát ra và ngắm nhìn cái xác này bất động. Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ.

    Sau vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những gì bên kia cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân tình, một cách rất bình thản: Các anh thấy tôi đã chết nhiều lần, tôi đã được qua thế giới bên kia, đẹp lắm, bình yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cõi đời này. Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những đồng ngũ đã hy sinh qua những tấm hình chụp trắng đen. Anh Thạch nằm chết bên cạnh khẩu M60 không còn một viên đạn. Mắt anh một nhắm, một mở. Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tròng. Tay cán bộ giả vờ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố tình tìm nhưng không nhìn thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường, là anh họ của tôi (anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức nhà báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Ðức). Vĩnh biệt các anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ thì thầm.

    Quay trở về mùa Ðông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngã Ba Thái Lan gồm nhiều dãy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh VNCH. Chúng tôi khoảng năm mươi người gồm nhiều thành phần bị nhốt trong dãy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban ngày chỉ xiềng một tay vào một chân. Cùng trại có một người lớn tuổi tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt vì nghi ngờ là sĩ quan cao cấp VNCH đang trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dõng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi cụ có liên hệ gì với với một người bạn cùng khóa là Phan Xuân Mai không. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Ðăng (Không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Ðăng, Biên Hòa) người phụ nữ duy nhất bị bắt vì tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đã dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi, không biết bà đã đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như thép ròng vậy. Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất trong suốt hơn hai tháng vì bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi (Th/Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose - California), Ngô Ðình Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y, người Bình Ðịnh (trông giống hệt hình Quang Trung Ðại Ðế), Trịnh Văn Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng chục lỗ đạn....

    Cũng trong trại này có một người lính cũ của tôi, Ðào Văn Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội gì. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi thì vẫn... muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba la, cứ vui trước đã, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một chén cơm với “thịt cọp”. Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi nhai kêu cọp cọp.

    Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần còn lại dùng pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa bò trong đó có phân nửa chất nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ: Nước cá kho tôi cho ông có ngon không? Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không gì so sánh bằng. Lành thật thà: Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô, nguyên cả ký lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại còn nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!

    Rồi cũng qua một mùa Ðông, một mùa Ðông tang thương, thê lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam tại xã Ngãi Giao, quận Ðức Thạnh (Phước Tuy/Bà Rịa). Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động (mục đích giữ tù không chạy trốn). Từng đoàn tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng Bình Giả, tôi lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Ðức Quang) thật thấm thía: “...Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người, nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi. Nụ cười xa vời, nụ cười của lòng hờn sôi. Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!”. Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện tình Lan và Ðiệp: Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác còn nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!! Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ vì hàng sư đoàn rệp tấn công suốt đêm.

    Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Ðồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Ðích thân thằng trại trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tròn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng 30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh, đập một nhát vào đầu Ðồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nhìn, thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu vọt ra có vòi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời!! Cố bịt miệng để khỏi la thành tiếng. Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông thõng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người nữa tình nguyện đi chôn. Cả hai xác còn nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1 thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn còn chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Ðất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khỏe nhất, hăng hái nhất... Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng mãi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc!! Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau.

    Ðêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt, tôi nhìn thấy thật rõ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ phòng giam, không nói gì, đôi mắt thật buồn nhìn về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hãy đi đi, đừng luyến tiếc gì cõi đời giả tạm này, nghiệp báo em đã trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hãy để cho lòng thanh thản mà siêu thoát... Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. Hình như có tiếng người trở mình bên cạnh. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Ðồng Quang Nhường, hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái gì bầy hầy như phân trâu bò. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em mình đi đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo (Nhường lúc nào cũng lạc quan) mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ của anh em mình, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ thì vinh với quang cái khỉ khô gì. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Thì ra đó chỉ là một ác mộng.

    Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ hình, cho phép đi cải tạo. Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị còn bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nhìn thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn gì không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng dây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Ðức Hùng, Nguyễn Thành An, Ðặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Ðức Thịnh... Trại bên có Nguyễn Ðức Phương. Bạn bè chia sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc quần treillis còn khá mới.

    Ngày 23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Phòng lên bến phà Sông Hồng với toàn phân trâu phân bò, tôi cứ mãi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận mình, về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn. Ðôi mắt cay cay chiều xót xa...

    *Nguyễn Thế Thăng
         *******************

    Khoá 29 – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: Chuyến Xe Định Mệnh Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát

    LỜI NGỎ

    Kính thưa quý Niên Trưởng, quý Chiến Hữu và quý Thân Hữu,

    Giới thiệu: “Khóa 29 – Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam: Chuyến Xe Định Mệnh Và Những

    Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát”

    Tác phẩm là một hồi ký mang tính chứng nhân, được viết lại từ ký ức của người trong cuộc –

    những sĩ quan trẻ Khóa 29 trong giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam.

    Không đi theo lối kể sử khô khan, bài viết mở ra một không gian ký ức sống động, nơi từng chi

    tiết – từ buổi lễ mãn khóa vội vã ngày 21 tháng 4, những chuyến xe GMC rời trường Võ Bị, cho

    đến bữa cơm dở dang giữa tiếng pháo kích – đều trở thành lát cắt của một thời đoạn lịch sử đặc

    biệt. Đó là thời khắc mà tuổi trẻ, danh dự và số phận của một thế hệ bị đặt vào cùng một điểm

    giao nhau của chiến tranh và định mệnh.

    Qua những câu chuyện cụ thể về Tướng Lý Tòng Bá, Đại úy Hiệp, Trung úy Lý A Sáng và

    những người lính trẻ Khóa 29, tác phẩm không chỉ tái hiện đời sống quân ngũ trong những ngày

    cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, mà còn khắc họa sâu sắc “cái tâm và cái tình” của người

    lính: sự dấn thân không điều kiện, tinh thần kỷ luật, tình huynh đệ chi binh, và sự bình thản trước

    sinh tử.

    Ở tầng sâu hơn, đây không chỉ là một hồi ức cá nhân, mà là một nỗ lực ghi lại ký ức tập thể của

    một thế hệ “sinh lầm thế kỷ nhưng sống đúng danh dự”, những người đã bước vào chiến tranh

    không phải như một lựa chọn nghề nghiệp, mà như một bổn phận không thể thoái lui.

    “Chuyến Xe Định Mệnh Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát” vì thế không chỉ là một bài viết

    hồi tưởng, mà còn là một lời tri ân, một chứng tích nhân sinh, và một nén hương tưởng niệm

    dành cho một thế hệ đã đi qua lịch sử bằng chính tuổi trẻ của mình.

    Kính mời quý vị cùng thưởng thức và phổ biến.

    Trân trọng,

    Tsu A Cầu K29

    21/4/2026

    +++

    KHÓA 29 - TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM

    Chuyến Xe Định Mệnh Và Những Dấu Chân Vào Nơi Gió Cát

    Tsu A Cầu

     I. Ngày 21 Tháng 4: Chúng Tôi Đã Có Mặt Và Không Quay Lưng

    Ngày 21 tháng 4, cách đây 51 năm, không chỉ là một cột mốc của lịch sử quốc gia, mà còn là

    một khoảnh khắc trầm lặng, khắc vào tâm khảm của mỗi người lính Khóa 29 Trường Võ Bị

    Quốc Gia Việt Nam — một dấu ấn mà càng đi xa, càng thấy rõ cái tâm và cái tình của một thế

    hệ sinh ra không đúng thời, nhưng đã sống đúng nghĩa.

    Hôm ấy, chúng tôi “được” tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu úy — hai chữ nghe tưởng như vinh dự

    trọn vẹn, nhưng lại mang theo một sức nặng rất khác. Không có nắng vàng rực rỡ của những lễ

    mãn khóa năm xưa. Không có gia đình đứng chờ trong niềm hãnh diện. Không có những cái bắt

    tay dài hay những bức ảnh lưu niệm. Buổi lễ diễn ra nhanh, đơn giản đến mức gần như không

    kịp để cảm nhận rằng mình vừa bước qua một ngưỡng cửa quan trọng của đời người.

    Bởi vì ngay sau đó, bên cạnh vũ đình trường, những chiếc xe GMC đã nổ máy chờ sẵn.

    Không ai nói ra, nhưng ai cũng hiểu: đây không phải là một lễ tốt nghiệp — mà là một cuộc bàn

    giao.

    Bàn giao tuổi trẻ cho chiến tranh.

    Bàn giao ước mơ cho định mệnh.

    Trong khoảnh khắc ấy, cái tâm của người lính không chỉ nằm ở những lời tuyên thệ, mà còn

    nằm ở sự im lặng rất đặc biệt: một sự chấp nhận không cần giải thích. Chúng tôi biết đất nước

    đang ở vào giờ phút nguy nan nhất. Biết rằng phía trước không phải chỉ là vinh quang, mà có thể

    là đổ vỡ. Vậy mà vẫn bước lên xe — không chần chừ, không quay đầu.

    Đó là sự dấn thân không lựa chọn.

    Nhưng cũng chính là lựa chọn rõ ràng nhất của một đời người, một người lính hiện dịch.

    Cái tình trong ngày hôm ấy lại càng sâu hơn vì nó không có cơ hội để bộc lộ. Không có thời gian

    để nói lời từ biệt với bạn bè, với người thân, hay với một người nào đó mình thương mà chưa kịp

    thố lộ. Có lẽ mỗi người đều mang theo trong lòng một điều chưa nói, một ánh mắt chưa kịp nhìn

    lại — và chính những điều chưa trọn vẹn ấy lại trở thành hành trang nặng nhất khi bước ra chiến

    trường.

    Ngày hôm đó cũng là ngày biến động ở thượng tầng quốc gia — khi vị Tổng thống từ chức, và

    quyền lực chuyển giao trong bối cảnh đầy bất trắc. Nhưng giữa những biến chuyển lớn lao ấy,

    hình ảnh những tân sĩ quan trẻ tuổi thản nhiên, hiên ngang bước lên xe GMC lại mang một ý

    nghĩa rất khác: đó là sự tiếp nối của một lý tưởng, được giữ bằng danh dự chứ không phải bằng

    hoàn cảnh.

    Sự hào hùng của Khóa 29 không nằm ở nghi lễ.

    Mà nằm ở chỗ: biết rõ con đường phía trước là gì — mà vẫn đi.

    Không phải vì không sợ.

     

    Mà vì không thể làm khác. Đó là: Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.

    Năm mươi mốt năm trôi qua, mọi thứ đã đổi thay. Những con đường xưa, những doanh trại cũ,

    những khuôn mặt quen — tất cả đều đã lùi vào ký ức. Nhưng có những âm thanh không bao giờ

    tắt. Đó là tiếng động cơ GMC năm ấy, không chỉ đưa chúng tôi rời khỏi cổng trường, mà còn

    đưa cả một thế hệ đi vào một đoạn đời không thể quay lại.

    Và có lẽ, điều còn lại sau tất cả không phải là tiếc nuối.

    Mà là một sự bình thản rất lạ: Rằng trong khoảnh khắc định mệnh nhất của đất nước,

    chúng tôi đã có mặt.

    Và đã không quay lưng.

     

    II. Trách Nhiệm Và Sẵn Sàng: Lời Thề Của Những Người Lính Giờ Thứ 25

    Có người nói chúng tôi đã chọn lầm nghề lính. Nhưng với chúng tôi, điều đó chưa bao giờ đúng.

    Khi đất nước lâm nguy, người thanh niên không còn đứng trước một “nghề nghiệp” để lựa chọn,

    mà đứng trước một bổn phận. “Quốc gia lâm nguy, thất phu hữu trách” — câu nói ấy không phải

    là khẩu hiệu, mà là một tiếng gọi từ bên trong. Chúng tôi bước vào quân trường Võ Bị, nơi rèn

    luyện cả văn lẫn võ, không phải để tìm vinh quang, mà để chuẩn bị cho một điều mà chính mình

    cũng không thể đoán trước. Nếu có điều gì “lầm”, thì có lẽ chỉ là chúng tôi đã sinh ra trong một

    thời điểm mà số phận của cả một dân tộc đang nghiêng ngả.

    Ngày trình diện đơn vị, chúng tôi đến với một tư thế rất nghiêm trang: trách nhiệm và sẵn sàng.

    Tại Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 25 Bộ Binh, chúng tôi đứng chờ vị Tư lệnh — người anh hùng của trận

    Kontum, Tướng Lý Tòng Bá — trở về từ mặt trận. Nửa tiếng đứng nghiêm, rồi thao diễn nghỉ để

    nghe ông nói chuyện, không phải là một buổi huấn thị, mà gần như là một cuộc truyền lửa.

    Trong giây phút đó, giữa khói lửa và những tin tức dồn dập của chiến trường, chúng tôi vẫn cảm

    nhận được một thứ gì đó rất người: cái tình của đàn anh dành cho đàn em. Lời hứa cho 24 giờ

    phép về thăm gia đình, trong hoàn cảnh ấy, không còn là một ân huệ, mà là một sự thấu hiểu —

    rằng mỗi người lính trẻ bước ra trận đều mang theo sau lưng một mái nhà, một người mẹ, hay

    một bóng hình người thương.

    Nhưng chiến tranh không cho phép người ta giữ lâu những xúc cảm ấy. Ngay sau đó là những

    chọn lựa đơn vị — Trinh sát hay các Trung đoàn. Tôi chọn Trinh sát, như một phản xạ tự nhiên

    của tuổi trẻ muốn đi vào nơi hiểm nguy nhất. Nhưng rồi phải nhường lại vị trí duy nhất ấy cho

    một đàn anh khóa 28. Một chút tiếc nuối thoáng qua, nhưng nhanh chóng được thay thế bằng sự

    chấp nhận. Trong quân đội, kỷ luật không phải là điều áp đặt từ bên ngoài, mà là điều người ta tự

    đặt lên chính mình. Tôi chuyển về Tiểu đoàn 1 — nơi mà sau này tôi mới biết, cả Thủ khoa khóa

    29 cũng chọn đứng vào hàng ngũ. Người giỏi nhất Khóa 29, rốt cuộc, cũng gặp lại những nơi

    nóng nhất.

    Bữa cơm trưa đầu tiên tại Trung đoàn 46 đáng lẽ phải là một khoảnh khắc tạm yên trước khi vào

    trận. Nhưng chiến tranh không có những khoảng lặng như thế. Pháo kích bất ngờ rơi xuống,

    ngay giữa hồ nước trong khu Bộ chỉ huy. Tiếng nổ vang lên giữa ban ngày, ngay khi chúng tôi

    còn đang cầm chén cơm trên tay. Điều lạ lùng không phải là tiếng pháo — mà là sự bình tĩnh của

    những người xung quanh. Các sĩ quan đàn anh vẫn ngồi đó, không hoảng loạn, không hấp tấp. Vị

    Trung đoàn trưởng, Trung tá Nghiêm K18, nhìn chúng tôi, hỏi một câu rất đơn giản: “Có thiếu

    úy nào biết hướng pháo từ đâu không?” Không ai trả lời. Chúng tôi ngơ ngác. Và trong khoảnh

     

    khắc đó, chúng tôi hiểu ra một điều: chiến trường không chỉ cần lòng can đảm, mà cần một cái

    đầu lạnh — một sự tỉnh táo ngay giữa lằn ranh sinh tử.

    Rồi ông nói, rất bình thản, như đang kể một chuyện quen thuộc: dạo này pháo rơi mỗi ngày, và

    thường nhắm vào chính cái hồ ấy. Sau đó là lời dặn về việc ôn lại cách sử dụng M72, vì xe tăng

    đối phương đã bắt đầu xuất hiện thường xuyên. Một bữa cơm trưa, nhưng lại là bài học nhập

    môn đầu tiên của chiến tranh: không có gì là bất ngờ, chỉ có người chưa kịp chuẩn bị.

    Nhìn lại, tất cả những điều ấy — từ việc nhường một vị trí mong muốn, đến việc đứng yên giữa

    tiếng pháo — đều không phải là những chi tiết rời rạc. Nó là một chuỗi những thử thách nhỏ, dồn

    dập, để biến một người lính mới thành một người lính thực sự. Không phải bằng những lời dạy,

    mà bằng chính hoàn cảnh.

    Có thể cuộc chiến đã kết thúc chỉ ít ngày sau đó. Có thể lịch sử sẽ nhìn vào kết quả để phán xét.

    Nhưng đối với chúng tôi, điều còn lại không nằm ở thắng hay thua. Mà nằm ở chỗ: trong những

    ngày cuối cùng ấy, chúng tôi đã sống đúng với điều mình tin. Đã trình diện với trách nhiệm. Đã

    đứng vào hàng ngũ khi mọi thứ đang sụp đổ. Và đã giữ được cái tâm của người lính — bình tĩnh

    trước hiểm nguy, và giữ cái tình của con người — biết nghĩ đến gia đình, đến đồng đội, ngay

    trong lúc cận kề sinh tử.

    Nếu gọi đó là một lựa chọn, thì đó là lựa chọn mà chúng tôi không hối tiếc.

     

    III. Tư Thế Đứng Yên Giữa Vòng Vây: Cái Tĩnh Của Người Lính Võ Bị

    Không phải tất cả những tiếng nổ đều mang theo chết chóc. Có những tiếng nổ, như buổi trưa

    hôm đó, chỉ làm mặt nước hồ tung tóe rồi lặng xuống rất nhanh — như thể chiến tranh cũng có

    lúc… chùn tay. Quả pháo rơi trúng đúng tọa độ quen thuộc, nơi đơn vị đã đóng quân một thời

    gian dài. Không ai bị thương. Không ai giật mình. Tiếng nổ không đủ gần để làm chấn động thân

    thể, nhưng lại đủ để khắc sâu một cảm giác rất lạ: chiến tranh đang ở ngay đó, nhưng chưa chạm

    đến mình — như một bàn tay đã giơ lên, mà còn chưa giáng xuống.

    Dần dần, chúng tôi hiểu ra: đó không phải là một sự tình cờ. Có lẽ đối phương đã có sẵn tọa độ,

    nhưng không nhằm tiêu diệt. Những loạt pháo ấy giống như một cách “điểm danh”, một lời nhắc

    nhở rằng họ đang ở rất gần. Người ta bắt đầu bàn với nhau — có thể họ không muốn mở thêm

    những trận đánh tiêu hao. Mục tiêu của họ là Sài Gòn, là những trục tiến quân lớn. Những đơn vị

    như chúng tôi, nếu không chặn đường, thì chỉ bị giữ lại ở một khoảng cách vừa đủ để không thể

    can thiệp.

    Chiến tranh, đến lúc đó, không còn là những trận đụng độ dữ dội như trước. Nó trở thành một

    cuộc đối diện âm thầm.

    Ban đêm, cái im lặng ấy càng trở nên rõ rệt.

    Trong màn sương dày của miền Đông, những chiếc xe tăng phía bên kia bất ngờ bật đèn pha, ánh

    sáng trắng quét ngang không gian như những lưỡi dao. Tiếng máy gầm lên, kéo dài, không phải

    để tấn công — mà để báo hiệu: chúng tôi đang ở đây. Không có phát súng nào. Không có cuộc

    xung phong nào. Chỉ có hai phía nhìn nhau qua bóng tối, mỗi bên giữ chặt vị trí của mình, như

    những người chơi cờ đã đến hồi quyết định nhưng chưa ai muốn đi nước cuối.

    Trong cái thế “gườm nhau” đó, người lính học được một thứ cảm giác rất đặc biệt:

    không phải là sợ — mà là chờ.

     

    Chờ một mệnh lệnh.

    Chờ một biến động.

    Chờ một điều gì đó lớn hơn tất cả những gì đang diễn ra trước mắt.

    Chúng tôi vẫn ăn cơm. Vẫn sinh hoạt. Vẫn trình diện cấp chỉ huy. Mọi thứ diễn ra gần như bình

    thường — nhưng bên dưới cái bình thường ấy là một lớp căng thẳng rất mỏng, chỉ cần chạm nhẹ

    là vỡ.

    Và có lẽ, chính trong những giờ phút tưởng như tĩnh lặng ấy, cái tâm của người lính hiện ra rõ

    nhất. Không phải trong lúc xung phong, mà trong lúc biết rõ đối phương đang ở rất gần — mà

    vẫn đứng yên, giữ vị trí, không dao động. Không phải vì không hiểu tình thế, mà vì đã chấp nhận

    nó.

    Cái tình cũng nằm ở đó.

    Là bữa cơm ăn dở nhưng không ai bỏ.

    Là ánh mắt nhìn nhau mà không cần nói.

    Là sự tin tưởng rằng dù chuyện gì xảy ra, mình cũng không đứng một mình.

    Sau này nghĩ lại, những đêm đèn pha rọi sáng và tiếng máy xe tăng gầm lên trong bóng tối

    không chỉ là một thủ thuật tâm lý của đối phương. Nó còn là dấu hiệu của một giai đoạn mà

    chiến tranh đã đi đến giới hạn của nó — nơi mà cả hai bên đều biết một điều gì đó rất lớn sắp

    xảy ra, nhưng chưa ai nói ra.

    Đó không còn là chiến trường của những trận đánh.

    Mà là khoảng lặng trước khi lịch sử tự khép lại một chương.

     

    IV. Ngàn Trái Đạn Đêm Qua Và Chén Rượu Tình Chến Hữu Hôm Nay

    Đêm đó, giữa cái không khí căng thẳng của chiến trường, chúng tôi lại gặp một điều rất… đời.

    Sau khi trình diện tại Bộ Chỉ Huy Trung đoàn, đám sĩ quan mới “tản hàng” ra phía sau. Chính

    trong cái khoảnh khắc tưởng như bình thường ấy, tôi bất ngờ gặp lại một người quen — Trung

    úy Lý A Sáng, pháo đội trưởng 105 ly, lại còn là bà con xa bên phía gia đình.

    Anh nhìn tôi, ngạc nhiên thật sự:

    “Ủa, mày ra trường hồi nào mà về đây?”

    Tôi kể nhanh tình hình. Anh nghe xong, không hỏi thêm gì nhiều, chỉ nói một câu rất gọn —

    nhưng đến giờ tôi vẫn nhớ:

    “Thiếu úy bộ binh thì cực lắm… tối nay xuống hầm tao mà ngủ.”

    Tôi hỏi lại, cũng rất thật:

    “Thế anh ngủ đâu?”

    Anh trả lời tỉnh bơ, như không có gì đáng nói:

    “Mày lo tao làm gì… tao bắn tụi nó suốt đêm.”

    Câu nói đó, lúc nghe qua tưởng như một câu đùa, nhưng thực ra là sự thật trần trụi của chiến

    tranh.

     

    Đêm nào pháo binh cũng bắn. Không phải vài trái, mà có khi hàng ngàn trái 105 ly — bắn đi

    trong bóng tối, theo những tọa độ gọi về từ các đơn vị bạn. Không thấy mặt nhau, nhưng từng

    quả đạn bay đi là một lời đáp: tụi tôi còn đây, tụi tôi đang giữ cho anh em.

    Cái tình lính, nhiều khi không nằm ở những lời lớn lao.

    Nó nằm ở chỗ: một người thức để người khác có thể ngủ.

    Tôi xuống hầm của anh.

    Bên ngoài, tiếng pháo vẫn dội lên từng chập — không phải tiếng nổ của hoảng loạn, mà là nhịp

    làm việc đều đặn, lạnh lùng, chính xác. Mỗi tiếng nổ là một lần anh và đồng đội của anh đang

    “nói chuyện” với chiến trường, giữ cho những đơn vị ngoài kia không bị nuốt chửng trong bóng

    đêm.

    Không biết tôi có ngủ được bao lâu.

    Chỉ nhớ rằng, giữa những tiếng pháo ấy, có một cảm giác rất lạ:

    mình không cô độc.

    Sau này, khi chiến tranh đã lùi xa, gặp lại nhau trong những bàn nhậu ồn ào, tôi thường đem

    chuyện cũ ra chọc anh trước mặt mọi người:

    “Hồi xưa anh làm pháo đội trưởng, bắn cả ngàn trái một đêm… còn bây giờ, không biết bao lâu

    anh mới bắn một trái?”

    Cả bàn cười ồ.

    Anh Sáng chỉ cười trừ, nâng ly, không nói gì.

    Nhưng ai hiểu chuyện thì đều biết —

    đằng sau câu nói đùa đó là cả một thời tuổi trẻ đã cháy hết mình trong những đêm không ngủ.

    Và có lẽ, cái đáng quý nhất không phải là anh đã bắn bao nhiêu trái đạn.

    Mà là: trong những đêm như thế,

    anh đã đứng đó —

    để cho những người khác còn có thể đứng vững.

    V. Giờ Thứ 25: Khi Danh Dự Được Đo Bằng Sự Dấn Thân Tận Cùng

    Anh Lý A Sáng không phải là một người lính bình thường. Anh xuất thân từ Thiếu Sinh Quân —

    một môi trường mà người ta vẫn gọi nửa đùa nửa thật là lò “ươm lính”. Ở đó, nhiều huấn luyện

    viên là người Nùng, và chính học trò người Nùng cũng không ít. Cái chất “lính rừng” — lì, gan,

    và ít nói — dường như đã ngấm vào anh từ rất sớm. Những người như anh, hay như Tướng Lý

    Tòng Bá, mang trong mình một thứ bản năng chiến đấu gần như tự nhiên.

    Có lẽ vì vậy mà đêm đó, khi anh nói:

    “Để tao bắn tụi nó suốt đêm,”

    nghe nhẹ như không — nhưng lại nặng như một lời cam kết.

    Sáng hôm sau, khi chúng tôi còn chưa kịp sắp xếp lại mọi thứ trong đầu, thì một chiếc Jeep đã

    lao tới gần câu lạc bộ của căn cứ. Xe thắng gấp, bụi đỏ tung lên mù mịt.

    Một Đại úy bước xuống.

    Ông không vòng vo. Hỏi thẳng:

    “Ở đây có hai thiếu úy Võ Bị mới trình diện?”

     

    Sau vài câu xác nhận, chúng tôi mới biết đó là Đại úy Hiệp — Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 1.

    Ông đến… để “nhận người”.

    Sau này nghĩ lại, cái cách ông xuất hiện hôm đó không khác gì một người đi “giành quân”. Đơn

    vị đang thiếu sĩ quan. Nghe tin có hai thiếu úy mới ra trường — lại có cả Thủ khoa Khóa 29 —

    ông lập tức lên xe đi ngay. Có lẽ trong đầu ông chỉ có một ý nghĩ rất thực tế: chậm một chút là

    có thể mất người vào tay đơn vị khác.

    Trên đường về đơn vị, xe chạy qua những đoạn đường bụi mù, Đại úy Hiệp quay sang nói, giọng

    trầm nhưng rất chân tình:

    “Hai thiếu úy đừng buồn nếu về đơn vị mà không thấy có đàn anh Võ Bị.”

    Tôi hỏi lại:

    “Sao vậy, thưa Đại úy?”

    Ông trả lời, chậm rãi, như nói một điều đã thấy nhiều lần:

    “Tôi rất thích Võ Bị… nhưng không ở lâu.”

    Rồi ông nói tiếp, với một nụ cười rất nhẹ — mà đến bây giờ nghĩ lại vẫn thấy có gì đó vừa tự

    hào, vừa xót xa:

    “Một là đi thật xa… hai là đi lên chỗ khác.”

    Lúc đó, chúng tôi nghe — nhưng có lẽ chưa hiểu hết.

    “Đi thật xa”… là gì?

    “Đi lên chỗ khác”… là gì?

    Phải sau này, khi đã đi qua chiến tranh, người ta mới hiểu:

    “đi thật xa” là những người không bao giờ trở về,

    còn “đi lên chỗ khác” là những người bị chiến tranh đẩy lên phía trước nhanh hơn số phận

    bình thường.

    Câu nói của ông không phải là một lời cảnh báo.

    Mà là một sự thật được nói ra bằng giọng bình thản của người đã quen nhìn thấy mất mát.

    Nhưng trong câu nói đó, vẫn có một điều rất rõ:

    ông tin vào người lính Võ Bị.

    Không phải vì danh xưng.

    Mà vì ông biết — những người này, khi cần, sẽ đi tới cùng.

    Chiếc Jeep vẫn chạy.

    Phía trước là đơn vị.

    Phía sau là một đêm pháo sáng và đèn pha chưa kịp lùi xa.

    Còn ở giữa — là hai thiếu úy trẻ, lần đầu tiên hiểu rằng:

    có những con đường, một khi đã bước lên,

    thì không phải lúc nào cũng có quyền chọn nơi mình sẽ dừng lại.

     

    VI. Lời Dặn Trên Chiếc Jeep Bụi Mù: Hành Trang Sinh Tồn Của Những Người Lính

    Giờ Thứ 25

    Lúc đó, nghe Đại úy Hiệp nói “một là đi thật xa, hai là đi lên chỗ khác”, chúng tôi không nghĩ gì

    nhiều.

    Không suy diễn.

    Không liên tưởng.

    Cũng không thấy câu đó có gì dính dáng đến mình.

    Có lẽ vì còn quá mới.

    Có lẽ vì chưa kịp hình dung chiến tranh sẽ đi đến đâu.

    Hoặc đơn giản — vì lúc đó, điều quan trọng nhất không phải là nghĩ xa, mà là học cách đứng

    vững ngay trước mắt.

    Tôi hỏi tiếp, rất thật:

    “Thưa Đại úy, tụi tôi mới ra trường… chắc còn nhiều điều phải học. Đại úy có gì dặn dò

    không?”

    Ông không nói những điều lớn lao.

    Không chiến thuật cao siêu.

    Không bản đồ hành quân.

    Chỉ nói những điều rất cụ thể — mà sau này mới hiểu, đó là những thứ giữ mạng sống cho người

    lính:

    “Khi hành quân, luôn để hai thằng lính khinh binh có kinh nghiệm đi trước… làm antenna.”

    Ông ngừng một chút, rồi nói tiếp:

    “Phải lắng nghe mấy ông hạ sĩ quan thâm niên. Mỗi vùng mỗi khác… bài học quân trường

    không giống ngoài này.”

    Những câu nói đó, lúc nghe qua tưởng như bình thường.

    Nhưng thật ra, đó là ranh giới giữa lý thuyết và sinh tồn.

    Trong quân trường, người sĩ quan học cách chỉ huy.

    Ngoài chiến trường, người sĩ quan phải học cách lắng nghe.

    Không phải ai cấp bậc thấp hơn cũng biết ít hơn.

    Có những người lính đi trước, họ không có cấp bậc cao —

    nhưng họ biết chỗ nào có thể... chết.

    Và chính họ là “antenna” —

    không phải bằng máy móc,

    mà bằng kinh nghiệm tích tụ từ những lần suýt không còn trở về.

    Đại úy Hiệp nhìn qua chúng tôi, rồi bất chợt nhận xét, giọng có chút tò mò:

    “Tôi ngạc nhiên… Thủ khoa mà tên như con gái — Đào Công Hương… mà lại hiền, nghiêm.”

    Ông quay sang tôi:

    “Còn anh… họ tên lạ. Người cũng lạ.”

    Tôi không trả lời gì.

     

    Không phải vì không biết nói gì —

    mà vì lúc đó, thấy cũng… bình thường.

    Trong quân trường, mỗi người một gốc gác.

    Ra chiến trường, chỉ còn một chuyện: đi được bao xa và đứng được bao lâu.

    Chiếc Jeep vẫn chạy.

    Bụi đỏ phía sau cuốn lên, che lấp con đường vừa đi qua.

    Phía trước, đơn vị đang chờ.

    Còn chúng tôi — hai thiếu úy mới ra trường —

    không nghĩ đến “đi xa” hay “đi lên”.

    Chỉ biết rằng, từ lúc đó trở đi,

    mọi bài học sẽ không còn nằm trên giấy nữa.

    Mà nằm… ở từng bước chân sắp tới.

    VII. Bữa Cháo Lòng Ven Đường Và Người Chỉ Huy “Rảnh Tay”

    Người ta thường nói tôi “khác lạ”.

    Có lẽ vì cái giọng nói, vì cách phát âm, hay vì dáng vẻ bên ngoài — nhiều người khi mới gặp

    thường có một ấn tượng nào đó, rồi sau này quen mới thấy… không giống như họ nghĩ. Tôi cũng

    không để ý nhiều. Ở trong quân đội, chuyện đó không quan trọng.

    Điều quan trọng hơn là mình đứng ở đâu, và đứng như thế nào.

    Trên xe, Đại úy Hiệp hỏi:

    “Sao hai thiếu úy lại chọn về Tiểu đoàn 1/46?”

    Chúng tôi trả lời rất đơn giản:

    “Dạ, vì gia đình ở Sài Gòn.”

    Không có lý tưởng gì cao siêu trong câu trả lời đó.

    Chỉ là một điều rất thật: đi đâu thì cũng muốn gần nhà.

    Ông không nói gì thêm.

    Chỉ gật đầu.

    Chiếc Jeep chạy một đoạn, rồi ghé vào một khu chợ ven đường. Một quán cháo lòng nhỏ, đơn

    sơ. Đại úy bảo dừng lại, quay sang nói:

    “Ở đây có chỗ ăn cháo ngon lắm… đi ngang là tôi ghé.”

    Anh tài xế được dặn ở lại coi xe.

    Chúng tôi bước vào, ngồi xuống như những người đi đường bình thường — không có gì cho

    thấy ngoài kia chiến tranh đang áp sát.

    Tô cháo bốc khói.

    Không ai vội.

    Chúng tôi vừa ăn, vừa nói chuyện.

    Giữa những câu chuyện đó, Đại úy Hiệp nói một điều rất nhẹ:

     

    “Gia đình tôi cũng ở Sài Gòn… nhưng vợ con đã qua Pháp rồi. Bên vợ nài nỉ… nên họ phải đi.”

    Ông ngừng một chút, rồi nói tiếp, giọng vẫn bình thản:

    “Bây giờ tôi rảnh tay… ở lại đánh tiếp.”

    Không có vẻ gì là hy sinh.

    Không có vẻ gì là quyết định lớn.

    Chỉ là một câu nói, như thể đó là chuyện đương nhiên.

    Chúng tôi nghe — và im lặng.

    Không ai hỏi thêm.

    Không ai bình luận.

    Nhưng trong lòng, cả hai đều hiểu:

    cái “rảnh tay” đó không nhẹ như cách ông nói.

    Đó là khi một người đã gửi gia đình ra ngoài vòng nguy hiểm,

    để chính mình ở lại trong phần còn lại của cuộc chiến.

    Bữa cháo hôm đó vẫn ngon như ông nói.

    Nhưng có lẽ, cái làm người ta nhớ không phải là vị cháo —

    mà là cái không khí của buổi ăn.

    Ba người lính ngồi với nhau.

    Không nói chuyện lớn.

    Không bàn chiến sự.

    Chỉ chia sẻ những điều rất gần — gia đình, nơi ở, đường đi.

    Nhưng chính những điều đó lại làm cho một điều khác trở nên rõ ràng:

    chúng tôi bắt đầu tin người chỉ huy của mình.

    Không phải vì ông ra lệnh giỏi.

    Mà vì ông sống thật.

    Một sự kính trọng và cảm phục thật sự.

    Sau này, nghĩ lại, bữa cháo lòng ven đường đó giống như một buổi “nhập đơn vị” không chính

    thức.

    Không có nghi thức.

    Không có chào cờ.

    Chỉ có một người đi trước,

    ngồi ăn cùng hai người đi sau,

    và bằng vài câu nói giản dị —

    đã cho họ thấy mình là ai.

    Chiếc Jeep lại lăn bánh.

    Phía trước là đơn vị.

    Phía sau là một quán cháo nhỏ, không tên.

    Nhưng có những thứ, một khi đã ngồi xuống cùng nhau như vậy,

     thì từ đó trở đi —

    không còn là người xa lạ nữa.

    Thế rồi chúng tôi cùng nhau đi vào nơi gío cát.

     "Mặc cho gió cát mịt mù lối,

    Danh dự soi đường, chẳng hướng lui."

     Những người lính Võ Bị K29 đã bước đi như thế—thản nhiên đi vào cơn lốc của lịch sử, đi vào

    "nơi gió cát" của cuộc đời với một tư thế hiên ngang nhất.

    Tsu A Cầu

    21/4/2026

     


    Next
    This is the most recent post.
    Bài đăng Cũ hơn
    • Blogger Comments
    • Facebook Comments
    Item Reviewed: SỐ ĐẶC BIỆT DIỄN ĐÀN TVBQGVN QUỐC HẬN 30-4-2026 VIỆT NAM CỘNG HÒA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHÁP ĐỊNH THÔNG ĐIỆP TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2026 Rating: 5 Reviewed By: SA CHI LỆ
    Scroll to Top