SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 BÍ MẬT ĐỘNG TRỜI VC BÁN NƯỚC-KHÔNG THỂ THA THỨ-CT TRẦN QUANG KHÔI 5 NGÀY CUỐI CÙNG...
!!!!!! TRƯỜNG VÕ BỊ
QUỐC GIA VIỆT NAM - THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY [VNMA] !!!!!!
!!!!!! DIỄN ĐÀN TRƯỜNG
VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, NƠI QUY TỤ NHỮNG CSVSQ VÕ BỊ, CHIẾN HỮU,
THÂN HỮU CÒN LÝ TƯỞNG
VÀ DANH DỰ, KHÔNG VỀ VIỆT NAM KHI CÒN VIỆT CỘNG !!!!!!
-
ĐÀI HIỆU SAIGON CHIÊU HỒN TỬ SĨ
Bí
mật động trời: VC bán nước cách nào cho Tầu Cộng?!
Bác
Sỹ TRẦN ĐẠI SỸ
Tuesday,
24 June 2014 21:43
Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ của Viện Pháp-Á tiết lộ động trời: Hồ Chí Minh và Ðảng CSVN đã bán nước Việt cho Trung Quốc như thế nào?
LGT.-
Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ hiện là Bác Sĩ Giám Đốc Trung Quốc Sự Vụ tại
Viện Pháp-Á (IFA), Thành Viên trong Y Sĩ Đoàn Pháp Quốc. Ông là người cầm bút nổi
tiếng trước và sau năm 1975, đã ấn hành được hơn 100 ngàn trang sách về lịch sử
và y học. Sự kiện Đảng CSVN đã hiến đất dâng biển cho Trung Quốc ra sao. Bí mật
của vụ này đã được Bác Sĩ Trần Ðại Sỹ trình bày trong Bản Ðiều Trần trước cơ
quan IFA, và được Saigon HD Radio trích đoạn các phần quan trọng sau đây:
Bác
sĩ/Tác giả Trần Đại Sỹ hội ngộ cùng 3 cựu Sĩ Quan Võ Bị Dalat tại Dallas
(Texas) ngày 26 tháng 5 năm 2012. Hình từ trái qua phải: Thi văn sĩ Quốc Nam
(Khóa 22 VB), Dr. Trần Đại Sỹ, cựu Trung Tá Nguyễn Quang Vinh (Khoá 14
VB), và cựu Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình-Tuy Nguyễn Ngọc Ánh
(Khóa 16 VB).
Bản
điều trần nêu lên nhiều chi tiết đau lòng. Theo BS Trần Ðại Sỹ, "Vụ cắt đất
ký ngày 30-12-1999, thì tôi được biết tin chi tiết, do hai ký giả Trung-quốc là
bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000. Nghĩa là 10 ngày sau, hai anh thuật,
theo tinh thần bản hiệp định thì: Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên
giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nươc), thuộc hai
tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn".
Trong
khi đó, Bộ Giao Thông CSVN lặng lẽ sơn lại các cọc cây số, và Bộ Ngoại Giao
CSVN cũng lặng lẽ lên trang web sửa thành câu văn mới: "lãnh thổ Việt-Nam
khởi từ cây số không ở phía Bắc".
Lý
do, theo BS Sỹ, vì "Cái cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ. Cột cây số
Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro cũ 5 cây số. Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay
thuộc Trung-quốc".
Các
phần quan trọng trong bản văn ghi như sau:
Bí
ẩn về việc đảng CSVN, Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc
Bản
điều trần của Yên-tử cư-sĩ TrầnÐại Sỹ
Dr.
Trần Ðại-Sỹ, 5, place Félix Éboué 75012 PARIS, FRANCE.
LGT:
Trong mấy tháng gần đây, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì
tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ,
lãnh hải cho Trung-quốc.Ðau đớn nhất là địa danh lịch sử Nam-quan, đi vào tâm
tư, là niềm tự hào của tộc Việt nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc.
Ngay
cả hang Pak-bo, là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở cách biên giới
Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở đây gần như nhìn vào lãnh thổ Trung-quốc. Trong
suốt 25 năm qua Bác-sĩ TrầnÐại-Sỹì vì ký khế ước làm việc với Liên-hiệp các viện
bào chế châu Âu (CEP) và Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC), trong đó có điều
căn bản là "không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc,
Việt-Nam hiện tạị Không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc,
Việt-Nam"; nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe
trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên ông đã được một
cơ quan (chúng tôi dấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ nàỵ Theo luật lệ hiện
hành, mà Bác-sĩ Trần phải tuân theọ Rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm
với chúng tôị (IFA)
Kính
thưa Ngài ... Kính thưa Quý Ngàị Kính thưa ông Giám-đốc... Kính thưa Quý-liệt-vị,
Thực
là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy
những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay chúng tôi lại
được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa
Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa
quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc.Ðây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó
khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô tự Vì:
-
Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng
đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần, vào thế kỷ
thứ 13. Mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho
Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.
-
Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết
trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc
dựng nước, giữ nước. Mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc
Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc; bị tộc Việt đời đời
nguyền rủạ Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.
-
Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp, thường bị vài tổ chức đòi phí
khoản 20 nghìn USD mỗi đầu ngườị Một vị Ðại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu, mời
tôi về nước (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học
Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất
rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào
cạ Thế nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị
ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong hoảng 98
phút, bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi
cho đây là một hình thức khủng bộ Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh
rẻ, vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của ho Trong khi họ không đủ khả
năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôị Hơn nữa tôi giữ trong tay một ủy nhiệm
thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)
Ghi
chú, (1) Trong lần về Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng-sơn. Khi tới trạm
biên giới mới, chúng tôi xin sang lãnh thổ Trung-quốc mới (Nam-quan cũ) thì bị
Công-an Việt-Nam từ chốị Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên
Âu, có visa hợp pháp vào Việt-Nam, thì chúng tôi có quyền ra khỏi Việt-Nam chử
Công-an cửa khẩu trả lời rằng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhất, Nội-bài,
chứ không có quyền rời Việt-Nam bằng cửa Hữu-nghi Chúng tôi xin chụp hình cửa
khẩu mơí, thì họ không chọ Chúng tôi đành trở về, rời Tân-sơn-nhất, rồi đi Quảng-châụ
Từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ Nam-ninh thuê xe tới Bằng-tường là đất Trung-quốc
đối diện với Nam-quan. Rồi vào Nam-quan cũ -
Ðứng
trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của ngườị Tự
nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng
tôi là người Hoạ Anh ta hỏi:
-
Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học ả
Tôi
lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:
-
Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam-man
đã dâng đất này tạ tội rồị. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiềụ.
Tôi
kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôị Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường,
kiếm một cơ sở mai táng (xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng
đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữẠ Hán như sau:
1.Thử
địa cựu Nam-quan,
2.Biên
địa ngã cố hương.
3.Kim
thuộc Trung-quốc thổ,
4.Khấp,
khốc, ký đoạn trường.
5.Lê
Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6.Thường
Kiệt truy Bắc phương,
7.HưngÐạo
đại sátÐát,
8.Lê
Lợi trảm Vương Thông.
9.Nam
xâm, Càn-Long nhục,
10.Gươm
hồng Bắc-bình vương.
11.Ngũ
thiên niên dĩ tải,
12.Hoa,
Việt lập dịch trường.
13.Mao,
Hồ tình hữu nghị,
14.Nam,
Bắc thần xỉ thương,
15.Huyết
lệ vạn dân cốt,
16.Hồng-kỳ
thích ô hoang.
Ðại-Việt
vong quốc nhân TrầnÐại-Sỹ-Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.
Tôi
đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, trên độ cao khoảng 2-3m.
Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà
thôị - Xin tạm dịch:
1.(Ðất
này xưa gọi Nam-quan,)
2.(Vốn
là biên địa cố hương của mình.)
3.(Hiện
nay là đất Trung-nguyên,)
4.
(Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay)
5.(Vua
Lê thắng Tống chỗ này,)
6.(Thường
Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,)
7.(Thánh
Trần sát Ðát liên miên,)
8.(Lê
Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,)
9.(Càn-Long
chinh tiễu than ôi,)
10.(Quang-Trung
truy sát muôn đời khó quên.)
11.(Năm
nghìn năm cũ qua rồi,)
12.(Chợ
biên giới lập, đời đời Việt-Hoạ)
13.(Ông
Hồ kết bạn ông Mao,)
14.(Sao
răng lại cắn, máu trào môi sưng.)
15.
(Vạn dân xương trắng đầy đồng,)
16.
(Ðể lại trên lá cờ Hồng vết nhơ)
(Người
nước Ðại-Việt vong quốc tên TrầnÐại-Sỹ, khóc đề thơ ngày 6 tháng 9 năm 2001)
--
Câu
5,. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị
vua Lê (Hoàn) đánh bạị
Câu
6, Năm 1076, vua Tống Thần-Tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang
đánhÐại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổị
Câu
8, Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầụ.
Câu
10, Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.
Câu
14, Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Ðông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ
Chí Minh kết thân với nhaụ Việt-Hoa ví như răng với môị. Vì sợ môi hở răng lạnh
nên ông Mao phải giúp ông Hồ- Năm 1979, Ðặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh
biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu
chảy ròng ròng.
-
Tháng 9 vừa qua,Ðảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động
nhất, vì năm 1997 tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc
viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Ðỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Nhất là
cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi
viết dưới hình thức hài hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA ,
số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị
cuối năm 1997. Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động, có
nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấỵ (2).
Ghi
chú (2) Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậỵ Tôi biết rất
rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết
trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm, khiến họ sợ hãi mà
thôi. Ðiều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Ðức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị
bán thân bất toại. Rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm, những
vụ đầu độc cùng một phương pháp:
-
Cậu-Chó vì dính dáng đến vụ Trương Như Tảng, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc,
không thành, rồi cũng được bán thân bất toại để bảo mật
-
Trong kỳ đại hội Đảng 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Bộ-trương Ngoại-giao, ôngÐào
Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương
thức. Nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.
-
Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam từng dính dáng với phong trào Trương Như Tảng.
Sau đó đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây, nghe tin Bác-sĩ
Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada sang Paris gặp
bà mưu kiếm ít xôi thịt từ Trung-quốc. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột
quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.
Kính
thưa Quý-vị:
Tuy
tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua. Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ
một lần nữa:
"Tôi
xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những
người tại Việt-Nam họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không
vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương
khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm
nay hoàn toàn vô tư".
Kính
thưa Quý-vị
Tôi
vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong
thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay, về việc:
-
Ðảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-hòa (VNDCCH,
1945-1975).
-
Ðảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam
(CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa
quốc gọi tắt là Trung-quốc.
3.
Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc.
3.
Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc.
3.1.
Kết quả của văn kiện 14-9-1958.
Ngày
4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của
họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận
đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận
như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội
trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng
Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này toàn thể các thành viên nhất trí
chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Ðồng
tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc
(Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1): những nước
liên hệ tới bản tuyên bố là :
-
Trung-hoa Dân-quốc (Ðài-loan), - Nhật-bản, - Hoa-kỳ (hạm đội 7)), - Phi-luật-tân,
- Mã-lai, - Brunei, - Indonésia, - VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).
Thế
nhưng từ hồi đó đến nay các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu
Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên.
Vì
sao?
Bản
tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc, rồi cũng được các
báo Trung-quốc đăng lại, mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giời cứ nhìn trên
bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng:
theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ
thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình
thường. Cái tương lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ
nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam, cũng như hải ngoại chỉ kết
tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ nàỵ.
Do
kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần
như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết
(hay không công nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:
-
Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa
Trung-quốc, mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.
-
Chiến hạm của Pháp,Ðức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980
vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng, mà
Trung-quốc đành im lặng.
Hôm
nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ
Kính
thưa Quý-vị,
3.2.
những bí ẩn.
Cái
bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.
-
Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố
ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đãẠ phân định từ 1887, giữẠa
Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải, của
Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ, rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì chẳng
có gì là lạ cả.
Nhưng
nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi rạ Vì
bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển
Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải
12 hải lý, tính từ các đảo này thì:
-
lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung,
Bắc Việt-Nam.
-
PhíaÐông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Bruneị
-
Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-laị
Trở
lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và
chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc,
thị cũng có bản đồ chi tiết. Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó
thì có nghĩa rằng:
Họ
đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ:
-
Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hảị
-
Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý, nghĩẠa là toàn bộ biển
Nam-hảị
Kính
thưa Quý-vị,
3.3
- Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa) .
Từ
trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:
-
Tại sao năm 1973, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa
(Tây-sa) từ VNCH. Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp
ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc).
Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhọ Trong khi Trung-quốc
có hỏa tiễn địa địa, chiến hạm lớn đông gấp 3 VNCH. VNCH lại đang có nội chiến,
phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm
Hoàng-sa- Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang
tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến.
Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH?
Nay
tôi xin thưa:
Vì:
Trong-cuộc
mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao TrạchÐông). Phía Trung-quốc
đã trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản độ Ông
Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đọ Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc,
thì Trung-quốc đem hạm đội xuống chiếm Hoàng-sa.
Vì:
Văn
thư của ông Phạm VănÐồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc
chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được hiến dâng, đã 16 năm bị VNCH
xâm lăng.
-
cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của
Trung-hoa Dân-qước (Ðài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân
Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến
tháng 3 năm 1988. Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ.
Nay
tôi xin thưa:
Do
văn thư của ông Phạm VănÐồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Lập luận
phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm VănÐồng đãẠ công nhận vùng này là lãnh hải
Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam
xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc. Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng,
bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân độiÐài-loan đóng tại đây, mà Trung-quốc
không tấn công vì quânÐài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh
thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo
này chưa ngã ngũ thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không
thể tấn công họ, vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.
Ðối
với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải
quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc
chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước, mà không chịu đàm phán chung
với tất cả các bên liên hê Có nghĩa họ gạt Việt-Nam ra ngoài, vì Việt-Nam đã
công nhận các đảo này là của Trung-quốc. 3.5 - Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản
Việt-Nam năm 1958, và chính phủ VNDCCH.
Tất
cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:
-
Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc MạcÐăngÐung bị lịch sử Việt-Nam
kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền
rủa bọn Mạc.
-
Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng
lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính
thức gây hấn với nhaụ VNDCCH không có ngoại thù.
-
Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH. Không có áp lực ngoại xâm.
-
Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, củaÐại-tướng Võ
Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất,
246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không
phải của đảng Lao động (Cộng-sản), dân chúng... bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc
dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng. Không còn kẻ nội thù,
-
Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết
tội VNCH là Việt-gian, là Ngụỵ Họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩạ
-
Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ
muôn năm của tộc Việt?
-
Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông
qua Quốc-hộị Bấy giờ VNDCCH cũng có Quốc-hộị Nhưng Quốc-hội không được hỏi đến,
không được bàn đến và nhất là không được thông trị Quốc dân cũng thệ Tất cả thắc
mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.
3.6
- Một câu hỏi được đặt ra:
Vậy
thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng
lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng? Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do
thỏa đáng.
Tôi
không tìm ra vì:
-
Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định
nhượng lãnh hải, đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm VănÐồng hồi ấy,
không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằngÐại-tướng Võ
Nguyên Giáp, vừa là Bộ-trương bộ Quốc-phòng, vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn
tại thệÐại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học.
Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành củaÐại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm
VănÐồng ký văn kiện nàyÐại-tướng phải biết. NayÐại-tướng đang đi vào những ngày
cuối cùng của đời ngườị Nếu sĩ khí, dũng khí củaÐại-tướng còn, xinÐại-tướng cho
quốc dân biết không?...
-
Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên, là tự ý Thủ-tướng Phạm VănÐồng thì không thể
nào tin được. Vì chính ông Phạm VănÐồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng
lâu năm, nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trương
cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện dâng đất cho Trung-quốc!
-
Ví thử ông Phạm VănÐồng tự ý ký văn kiện trên, thì năm 1977 văn kiện ấy lộ ra
ngoàị Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm VănÐồng hãy còn sống, sao
Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc?
Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống
thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?
-
Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị,
văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có
thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng, thì muôn nghìn năm
sau, lịch sử còn ghi:Ðảng Cộng-sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu
tài; chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, chứ Bộ Chính-trị 2001
không hề làm việc nàỵ
Chúng
tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc, trước khi điều trần sang phần thứ nhì.
Kính
thưa Quý-vị,
Bây
giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:
4.
Vụ nhượng lãnh thổ mới đâỵ
*
Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999.
*
Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
4.1
- Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định.
Hai
hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam
thì:
-
Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,
-
Ông TrầnÐức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,
-
Ông NôngÐức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,
-
Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.
-
Ông NguyễN Mạnh Cầm làm Bộ trương Ngoại-giaọ
Ai
chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết, nhưng
có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Không cần biết người ký là Chủ-tịch TrầnÐức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay
Bộ-trương Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người
tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Nhưng
người quyết định là aỉ ?!?
Ông
Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm - Hai ông này không có quyền, dù có quyền các
ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định
một mình. Ông TrầnÐức-Lương, NôngÐức-Mạnh càng không có quyền gị Vì vậy tôi mới
quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả
các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi
quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:
-
Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ,
phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của
Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi
vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng, chứ không thể là một khối như Bộ
Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu đều biết trước
rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, dấu diếm đảng
viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do
gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?
-
Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước, cũng như Thủ-tướng
nhất.Ðến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với
người đàn bà có thế lực trong đảng, mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không
thể can thiệp cho ông ta tại ngoạị.
-
Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thưÐỗ Mười, cựu Chủ-tịch
nhà nước LêÐức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng
hoàng thời Trần. Tuy mang danh Cố-vấn, nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đốị
-
cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại
giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước
ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam. Nhất là Tổng-thống
Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du
học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-kỵ Nói tóm lại thời gian
từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế
nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện
trợ vũ khí, để được che chở.
-
cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không
có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh. Vậy
vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc? 4.2 - Chi tiết vụ
cắt đất.
Vụ
cắt đất ký ngày 30-12-1999, thì tôi được biết tin chi tiết, do hai ký giả
Trung-quốc là bạn với tôi thông vào ngày 9-1-2000. Nghĩa là 10 ngày saụ Hai anh
thuật, theo tinh thần bản hiệp định thì:
-
Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không
phải 720 như tin lộ ra trong nươc), thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.
-
Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là :
-
Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân
lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam.
Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giớị
-
Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan.
Thưa
Qúy-vị,
4.3
- Ảnh hưởng vụ cắt đất.
4.3.1
- Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt.
Khu
Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh địa trong mấy nghìn năm của người
Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng Ải Nam-quan là vùng
đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự
chủ, cho niềm niềm tự hào của hoÐây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và
tâm tư toàn thể người Việt. Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao
TrạchÐông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch Ðông đã nói:
"Cái
tên Ải Nam-quan, nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu
tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như
nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại
coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị".
Chủ-tịch
Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in
trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôị Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành
chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ Ải Nam-quan hay cửa Hữu-nghị.
4.3.2
- Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt.
Tôi
đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lạị lãnh thổ
Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhọÐây là cửa họng giao thông của
Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bô Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt
giao thương đều qua đâỵ Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên
Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam
đều chép rằng:
"Con
đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan".
Hoặc
: "lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi
Cà-mâu, theo hình chữ S".
Bây
giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy
hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu: "lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở
phía Bắc".
Thưa
Quý-vị,
Cái
cây số không đó là cây số 5 cũ đấỵ Cột cây số Zéro bây giờ ở phía Nam cột Zéro
cũ 5 cây sộ Từ cây số Zéro đến cây số 5 nay thuộc Trung-quốc.
Sát
cây cầu Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:
-
Cơ sở Hải-quan.
-
Bai đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.
-
Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport.
-
Ðồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thộ
-
Hằng chục cơ quan, khác như Bưu điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.
-
Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn.
Các
cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1978, quân đội
Trung-quốc đã san bằng hết. Kể cả cây cột biên giớị Tuy vậy sau chiến tranh, đã
xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân
chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại
hơn cụ Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc.
những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất.
4.3.3,
Mất dân, mất di tích lịch sử
Ði
sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵÐồng đăng, rồi tới
tỉnh lỵ Lạng-sơn.Ðây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc
Việt:Ðộng Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núị Vùng Lạng-sơn
xưa là Thủ-đô của con cháu giặc MạcÐăngÐung, mà năm 1540 đã dâng đất cho
Trung-quốc, để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh
Hoa-Việt 1978, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích
tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị
san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa
Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn.
Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác
bắn vào làm hư hại rất nhiềụ
Ði
sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua
không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưạ Tại đây
đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại
Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng
của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời
kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núiÐầu-quỵ Tại ải
Chi-lăng, núi Ðầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sự Hồi chiến tranh
Hoa-Việt 1978, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện
cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lạị May mắn thay khu này vẫn còn thuộc
lãnh thổ Việt.
Trở
lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ
nhượng cả dân chúng nữạ Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân
chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải
hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết
bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi về cuộc chiến, về gương
anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng
hãnh diện đời nọ sang đời kiạ Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm
nghìn năm của họ- Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự
cai trị của kẻ thụ Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được
nhắc tớị Thương tổn tinh thần quá lớn Gần đây nhất, trong chiến tranh 1978,
phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy
chục vạn quả mìn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm,
công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đaị Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử
trận tại đâỵ Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình
liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân nhân ho Nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên
các di tích này bị phá hủỵ Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo
vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dị Các vòng
đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiềụ
4.4
- Vụ cắt lãnh hảị
Hiệp
định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000.
Từ
giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoạ Tuy
nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽẠ Hồng
đức bản độ Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa
(Nam-sa) thuộcÐại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ
Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết). Vào những thời kỳ ấy
(1500-1887), Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt
chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao, nên chưa có những đụng chạm.
Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của
Pháp; thì người Pháp mới định rõ lãnh hảị Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam,
đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt.Ðối
với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại, vì mất một số đảo, mà
dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt.
Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo
Việt, và dùng y phục Việt. Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983. Tuy nhiên
với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau: Trung-quốc 38%
Việt-Nam 62% .Ðối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa
Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng
thệ Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống.
Vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam.
Chứng cớ:
-
Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hảị
Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi
là thị xã Nam-hải chử Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.
-
Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phíaÐông Bắc Việt-Nam
mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng
gọi là vịnh Bắc-bô Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đọ Vậy thì rõ ràng
vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chử
Bây giờ đến hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như
sau: Việt-Nam 53% Trunguốc 47%. So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%,
nay mất thêm 9% nữa!
4.5
- Ảnh hương vụ cắt lãnh hảị
4.5.1
- Mất lãnh hải, quốc sản.
Theo
hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới
9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượng là vùng:
-
Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực, là những loại hải sản quý -
Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửạ - Một số đảo trong vùng nhượng, thuộc
Trung-quốc.
4.5.2
- An ninh quốc gia bị đe dọạ
Nếu
vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế, thì vụ nhượng lãnh hải
lại nguy hại về an ninh. Vì Trung-quốc có thể dùng các đảo này làm phi trường
quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiếp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Bắc-Việt
và miền Trung, miền Nam Việt-Nam. Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm
Hoa-Việt về lãnh hải, Trung-quốc đòi cho được mấy đảo nhỏ trong vùng. cũng những
tin của ECL về các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam thì việc chủ
trương nhượng các đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông Cố-vấn Ðỗ Mười,
Lê Ðức-Anh hay Võ Văn-Kiệt.Ðể tỏ ý hoàn toàn quy phục Trung-quốc, Bộ Chính trị,
cũng trao cho Trung-quốc toàn bộ kế hoạch phòng thủ phía Bắc Việt-Nam. Theo ý
kiến chúng tôi, thì trong Bộ Chính-trị bấy giờ, nhóm quân đội rất mạnh, chủ chốt
có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu
này, có phần ước tính tình hình Trung-quốc, Việt-Nam, đại lược như sau:
"-
Trung-quốc không có khả năng dùng Không-quân tấn công vào Thủ-đô Hà-nội và các
tỉnh đồng bằng Bắc-bộ. Vì khoảng cách từ các phi trường Quảng đông, Quảng-tây,
Vân-nam, Hải-Nam quá xa. Phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc, nhưng trở về thì không
đủ nhiên liệu.
-
Nếu Trung-quốc tiến công bằng đường bộ, thì ít nhất phải có một triệu quân. Với
một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô-tô tiếp tế. Mà đường bộ thì các ngả
Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng. Một
là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ), ba là Cao-bằng. Ba ngả đó đường xá
gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe, thì chỉ ba ngày là đường nát hết.
-
Ðịa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt,
cũng đủ cản trở một ngày tiếp tệ - Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra,
thì Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phố Hồ
Chí-Minh.
-
Trường hợp đó bắt buộc Trung-quốc phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân.
Hai quân cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rất
khó khăn".
Bây
giờ Trung-quốc được mấy đảo trong vịnh Bắc-Việt, rất gần với thềm lục địa của
trung châu Bắc-bộ, miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung-quốc thiết lập
căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiếp vận tại đây, thì toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam
bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đều là tướng
lãnh, từng cầm quân trên 40 năm, thì các ông phải biết rõ điều đó. Biết, nhưng
các ông vẫn làm, thì có nghĩa là các ông muốn: "Việt-Nam vĩnh viễn nằm
trong vòng kiềm tỏa của Trung-quốc". Còn như các ông ấy làm việc đó để được
gì, cho ai, vì ai thì tôi chịụ...
Bác
sĩ/Tác giả TRẦN ĐẠI SỸ (Paris, Pháp Quốc).
Bí mật động trời: VC bán nước cách nào cho Tầu Cộng?!
Bí mật động trời: VC bán nước cách nào cho Tầu Cộng?! SAIGON
HD RADIO ******* On Friday, October 2, 2015 1:20 PM, Tien
Nguyen <nguyenmtien50@gmail.com> wrote: Không Thể Tha Thứ Được Nguyễn Văn Học Từ ngày miền Nam rơi vào bàn tay sắt máu của bọn bạo
quyền cộng sản đến nay đã hơn 34 năm - Với hoàn cảnh cá nhân tôi, thời gian này
có thể đại khái chia làm ba giai đoạn: - Khi tù đày trong trại tù nhỏ mà chúng gọi là trại
"cải tạo". - Khi được chúng thả ra, sống khổ ải, đói rách, lúc
nào cũng nơm nớp lo sợ, dưới sự giám sát gắt gao của công an cộng sản tại Phường,
Xã trong... nhà tù lớn. - Và sau cùng được hưởng tự do, no ấm trên đất nước
tạm dung Hoa Kỳ. Một điều nghịch lý là tôi cảm thấy những năm tháng
khổ nạn của đất nước và của dân chúng miền Nam, dù khổ thật khổ, nhưng lại có vẻ
trôi qua nhanh - Nhanh hơn những giai đoạn trước đó trong cuộc đời tôi, như thời
gian tôi còn nhỏ ở miền Bắc, đến thời gian di cư, từ 1954 đến 1975, đi học, gia
nhập quân đội, phục vụ cho đến ngày mất nước - Những ngày tháng trước năm 1975
đúng là dài lê thê. Bạn bè, nghe tôi bày tỏ, phần đông đồng ý với tôi, họ cũng
có cảm giác tương tự như vậy, dù một số người không phải dân "ri cư
". Những lúc có dịp ngồi trò chuyện với nhau, chúng tôi
lại đồng ý thêm một lần nữa: - sở dĩ chúng ta có cảm giác thời gian trôi nhanh,
vì không ngờ bị thua một cách chớp nhoáng và đau đớn như thế, bao lâu sau nhắc
lại vẫn còn thấy bàng hoàng, kinh ngạc về trận thua này. Đến lúc bị cầm tù, tiếp xúc với bọn cán bộ, sĩ quan,
binh lính miền Bắc, ai ai cũng nhận thấy kẻ thù chiến thắng chúng ta lại được
"giáo dục" để trở thành ngu dốt đến mức tàn tệ, giống như một loại động
vật, không hề biết suy nghĩ, phân biệt đúng, sai. Nhưng chúng lại được nhồi vào
đầu óc những điều khoác lác, gian manh, quỷ quyệt và tàn ác đến tột đỉnh. Điều
này làm chúng ta thêm ngỡ ngàng, khó có thể tưởng tượng được là chúng ta đã
thua trước một loại kẻ thù không tương xứng đến như thế. Đau đớn, lại càng thêm
chua xót. Kế tiếp, chúng ta sửng sốt, ngỡ ngàng, vì không tin
rằng dù đã bị hành hạ quá sức tàn bạo, kẻ thù không trực tiếp giết, mà muốn
hành mình cho chết, thế mà vẫn may mắn lê được tấm thân tàn về với gia đình -
Rõ ràng sự thật rành rành, mà cứ ngỡ như đang ở trên mây - Tóm lại, chúng ta
không nghĩ rằng sức chịu đựng của con người mình lại dẻo dai hầu như...."
vô cùng tận", để thích ứng với mọi hoàn cảnh khốn khó đến thế. Thưa quý vị, Dù khô khan niềm tin đến đâu, cũng phải nghĩ rằng,
anh em chúng tôi trong tù, sống được cho đến ngày trở về, đúng là có sự quan
phòng của Thượng Đế. Mặc dù đôi khi anh em chúng tôi vẫn đùa với nhau, Thượng Đế
của chúng mình giống như một ông bố có tính "đùa dai", thấy lũ con
khó bảo quá, nên bố ra tay sắp đặt cho chúng sống qua một đoạn đời như vậy
cho..... sáng mắt ra. Chỉ có bàn tay Thượng Đế sắp đặt, chúng ta mới bị thua
trước một địch thủ kỳ cục như vậy, và cũng tùy theo cảm nhận của mỗi người, chỉ
có bàn tay của Đấng Tối Cao, chúng ta mới may mắn được định cư trên đất Mỹ này. Được sống trên đất Mỹ, lại cũng là cảm giác không ngờ
nữa - Sự sung sướng làm con người bềnh bồng, bềnh bồng - Lắc lắc cái đầu, vỗ vỗ
trên trán mà vẫn như mơ mơ, tỉnh tỉnh - Không hiểu tại sao cuộc đời mình, gia
đình, vợ con lại quá sức may mắn thế này - Đang từ một đất nước độc tài, chậm
tiến, dân chúng đói khổ, lại còn bị kềm kẹp giống như địa ngục trần gian, được
đưa thẳng đến một đất nước mà toàn thể địa cầu suy tôn là thiên đàng hạ giới -
Đã cơm no, áo ấm, còn được tự do, bình đẳng trên mọi phương diện, dù là dân nhập
cư - Đúng như sống trong mơ vì giấc mơ hồi nảo, hồi nao nay.... đã thành sự thực
- Cám ơn Thượng Đế - Cám ơn đất nước và dân chúng Hoa Kỳ. *** Khổ đau... tận mạng, rồi đến khi được sung sướng
cũng... tuyệt đỉnh - Khổ và sướng trong cuộc đời ngắn ngủi của mình, đều đạt đến
cực điểm cả, nên đầu óc chúng ta chới với, giảm phần nào cảm ứng về thời
gian.... Lại nữa, khi nhớ đến trận thua đau đớn của miền Nam, trong lòng vẫn
còn ấm ức như câu chuyện vừa xảy ra mới đây, nên chúng ta có cảm tưởng thời
gian đi quá nhanh thế thôi! Điều này tôi nghĩ cũng có điểm... hay - Vì như vậy
cũng có nghĩa là những đau đớn mà gia đình, đất nước mình phải gánh chịu, lúc
nào cũng canh cánh bên lòng, nhắc nhớ chúng ta luôn nghĩ đến bọn thủ phạm đã
gây nên những cảnh tang thương cho chúng ta và dân tộc, để rồi từ đó nuôi dưỡng
ý chí, căm thù những hành động tàn ác, dã man, mà cộng quân đã hành sử với đồng
bào trên quê hương, kể cả với những người dân lương thiện đã bị chúng lừa gạt,
dụ dỗ, xả thân làm theo những điều chúng xúi dục, để rồi khi đạt được mục đích,
chúng quay lại hành hạ, bóc lột, đàn áp, cướp đoạt đất đai của chính những người
đã hy sinh cho chúng, đã cưu mang, che chở chúng. Tôi và gia đình luôn ghi nhớ những hành động dã man
tàn ác của bọn cộng sản để thù ghét. Nhưng xin hiểu cho chúng tôi điều này: - Chúng tôi lớn lên và được hưởng một nền giáo dục
nhân bản của miền Nam Việt Nam, từ thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Chúng tôi cũng là người
có tín ngưỡng, biết ghê sợ và tránh xa, không làm những điều gian ác. Sự thù
ghét cộng sản mà chúng tôi đề cập đến và đề nghị với mọi người nên duy trì,
không có nghĩa là phải tìm cách trả thù, cắt cổ, mổ hầu chúng, hay áp dụng câu
"mắt đền mắt, răng đền răng" đâu - Chúng tôi luôn ghi nhớ và căm thù
là căm thù cái ác, cái xấu, những con người mất "tính người" đã đày đọa
đồng loại như súc vật. Chúng tôi căm thù, ghê tởm chế độ cộng sản, chỉ là để nhắc
nhở cho con cháu chúng tôi và những thế hệ kế tiếp biết để tránh xa chủ nghĩa xấu
xa đó, đừng nghe lời dụ dỗ, lường gạt của chúng vì sự thật đã chứng minh: - Bọn cộng sản đang cầm quyền tại Việt Nam hiện nay
là một bọn người lòng lang, dạ thú. Càng ngày bọn chúng càng lộ ra bộ mặt buôn
dân, bán nước, ăn cướp của dân, bàn tay bao phen đẫm máu dân lành. Chúng ta
không thể tin vào những lời tuyên truyền của bọn chúng và phải tìm cách dẹp bỏ
ngay chủ nghĩa vô luân này như các nước trên thế giới đã làm. Hành động của chúng từ trước đến nay hoàn toàn ngược
lại những điều chúng tuyên truyền, không những chúng tước đoạt hết mọi quyền tự
do căn bản của người dân, chúng còn đem đất nước mà cha ông chúng ta đã tốn bao
xương máu gây dựng và gìn giữ, lần lần dâng cho bọn Tàu cộng, từ đất đai sát
biên giới phía Bắc, đến vùng biển, những hải đảo ngoài khơi, xưa nay vẫn thuộc
chủ quyền VN. Bây giờ đến cả những phần đất nằm sâu trong nội địa là Tây
Nguyên, chúng cũng tìm cách này cách khác, công khai dâng cho quan thày chúng,
mặc những ý kiến phản đối của đủ mọi tầng lớp dân chúng. Đừng tin tưởng gì nơi những lời nói của cộng sản -
Chúng là bọn buôn dân bán nước, việc làm của chúng hoàn toàn có lợi cho đảng và
một số đảng viên, cùng một loại lưu manh, tàn ác như chúng. Quyền lợi của của tổ
quốc, nhân dân, chỉ là chiêu bài chúng mang ra dụ dỗ toàn dân, như chúng đã làm
từ khi có đảng cộng sản đến nay - Chúng lúc nào cũng vẫn trung thành với chủ
thuyết tam vô: vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo. Chúng có xoen xoét những lời
yêu nước thương dân, tự do này, tự do kia, thì cũng là đầu môi, chót lưỡi, để
che dấu tâm địa xấu xa của chúng và lường gạt mọi người mà thôi! *** Ngoài bọn tội phạm của đất nước, là lũ cộng sản hiện
cầm quyền tại Việt Nam, tôi cũng rất buồn khi phải đề cập đến một loại người nữa,
tuy không đến nỗi phải căm thù sâu đậm như bọn cộng sản, nhưng cũng cần phải
lên án gắt gao, vì họ đã làm nhức nhối con tim những người Việt tỵ nạn chân
chính nơi hải ngoại. Họ đã tiếp tay, nối giáo cho giặc, để bọn cộng sản thêm
thuận tiện trong việc vơ vét của cải, khủng bố dân lành - So với bọn cộng sản,
những hạng người này dù âm thầm hay công khai, chúng ta cũng khó vạch mặt - Họ
là ai??? Họ cũng giống chúng ta, cũng đã bị tan nhà, nát cửa,
bị đổi tiền, bị "đánh tư sản", bị lột đến tận chổi cùn, rế rách, nhà
cửa chúng tịch thu, bị đẩy đi "kinh tế mới", không vùi nắm xương tàn
nơi đèo heo hút gió thì cũng trở thành vô gia cư, sống vất vưởng đầu đường xó
chợ. Họ có thể là nhà văn, nhà báo, bị cộng sản khép tội
phổ biến văn chương đồi trụy, mặc dù khi sống trong chế độ miền Nam họ cũng chẳng
giúp ích gì cho xã hội, chỉ quanh quẩn nơi thành phố, tìm mọi cách hưởng thụ -
Chẳng một lời ủng hộ chính nghĩa hay chế độ mà họ đang được cưu mang, lâu lâu dở
chứng họ còn hè nhau chê trách, phản đối chính quyền, lớn tiếng chống chiến
tranh, dù chiến tranh không phải do miền Nam gây ra. Buồn buồn muốn phá rối
chơi, họ rủ nhau bị gậy đi ăn mày làm bẽ mặt chính quyền. Khi cộng sản thắng, họ
sống với cộng sản không nổi, vì cũng bị mất tự do và đói khổ, nhưng không hề thấy
họ phản đối hay lên án như trước kia họ đã làm - Họ cũng biết là họ không thể sống
được với cộng sản nên âm thầm.... trốn. Khi sang được thế giới tự do họ lại vung vít những lời
đao to, búa lớn, rồi xì xụp áo thụng vái nhau - Cuối cùng họ muốn quay về làm
tôi giặc cộng, để kiếm chút công danh, bổng lộc, nên kêu gọi xóa bỏ hận thù,
hòa hợp, hòa giải - Họ tự nhận là những văn, thi sĩ, nghệ sĩ vị nghệ thuật, yêu
quê hương, chê trách người quốc gia chống cộng là quá khích, không có lòng
nhân, không biết tha thứ v...v.... Họ cố luồn cúi trở về, xin xỏ với cộng sản
cho in một quyển sách, phổ biến một tập thơ, trình diễn vài bản nhạc và lấy thế
làm hãnh tiến. Bọn trẻ, con cái những người này, có một số lại càng tệ hơn -
Chúng còn nhỏ theo cha mẹ trốn chạy cộng sản sang tới Mỹ, được sống trong chế độ
tự do, học hành thoải mái, khi có được một chút thành công, chúng bỗng quay ngược
180 độ - ra mặt công khai ủng hộ cộng sản, kẻ đã đầy đọa chính gia đình chúng
và đồng bào - Chúng chê trách, lên án cộng đồng tỵ nạn là chỉ sống với quá khứ,
hận thù v..v... Họ có thể là tu sĩ các tôn giáo, là kẻ thù nặng nề
nhất của chế độ mới, vì đã chạy theo "ngụy quyền", dùng tôn giáo như
một loại thuốc phiện ru ngủ binh lính, thúc đẩy họ bắn giết và sẵn sàng tha tội
giết người cho binh lính để họ yên tâm gây tội ác. Họ có thể là những thành phần ưu tú của VNCH, đã từng
là người cầm quyền cai trị và đã bị bọn cộng sản mạt sát là "ma cô, đĩ điếm",
chạy theo đế quốc Mỹ để kiếm chút bơ thừa sữa cặn từ dịp 30-4-1975. Họ có thể là dân lương thiện, mới hôm nào vì sống
không nổi dưới chế độ cộng sản, đã trốn chui, trốn nhủi dưới những đống rơm, bó
mía, thậm chí có khi phải rúc dưới những bao rác, bao phân, để vượt biên, vừa tốn
vàng, vừa cực khổ, nguy hiểm. Nếu bị bắt, chắc chắn sẽ mang tội phản quốc, bị
tù mà không có án. Còn không bị bắt thì hành trình vượt biển thật là gian
truân, chưa biết được, thua, chết, sống - Ngoài sóng gió, bão táp, lạc đường,
hư máy, còn nạn hải tặc hãm hiếp phụ nữ, rồi bắt đi đem bán cho các động mãi
dâm, sau đó giết hết mọi người, nhận chìm thuyền để phi tang v...v.... Họ có thể trong "diện hát ô", được đi sang
Mỹ an toàn bằng máy bay, nhưng trước đó là những năm tù vô định, năm, mười, mười
lăm... năm, bị hành hạ từ thể xác đến tinh thần, đem được thân xác còm cõi về đến
nhà thì đã tơi tả - Nào đã yên thân, tấm thân tơi tả đó có khi còn bị mất nhà,
mất vợ, mất con, lê tấm thân mòn mỏi bán vé số sống qua ngày, tuần tuần, tháng
tháng vẫn phải đến công an khu vực trình diện mới tạm yên thân.... Họ, họ, họ.... là những người mới hôm nào, khi sang
được bến bờ tự do, đã vui mừng, hứng khởi tuyên bố những lời lên án chế độ cộng
sản, họ tả lại những cảnh cơ cực, khốn khổ của họ và đồng bào trong nước. Họ
xác nhận là họ được may mắn như "chết đi sống lại"... Vậy mà chỉ ít năm sau họ..... quên hết. Họ hân hoan
trở về nơi mà họ đã liều chết lìa bỏ ra đi, tuyên bố, tuyên mẹ vung vít để nịnh
bọn cầm quyền cộng sản và trách móc những người chống cộng ở hải ngoại.... Họ
nói về để "đóng góp công sức xây dựng quê hương", về để "ca hát
cho đồng bào nghe", rồi lập hội này, nhóm nọ, quyên góp tiền bạc đem về VN
để xây trường học, viện mồ côi, cứu giúp người nghèo đói... Họ giúp cho bọn cầm
quyền cộng sản để chúng rảnh tay đàn áp và vơ vét. Họ quên rằng, làm cho dân
nghèo, nước mạt, chính là kết quả của sự cai trị độc tài, tham nhũng của bọn cộng
sản. Chưa hết, họ kêu gào đồng bào hải ngoại hãy xóa bỏ hận
thù trở về tiếp tay với "nhà nước" - Những người phản đối việc làm của
họ thì họ chê bai, dè bỉu là những kẻ "chống cộng bằng... mồm", không
có tình với quê hương, với đồng bào trong nước - Họ cũng "ăn phải
đũa" ngu độn và lươn lẹo của bọn cộng sản là đồng hóa đảng cộng sản với đất
nước, với toàn dân. Vì những thành phần tôi vừa kể mau quên như vậy, nên
tôi không biết dùng danh từ nào cho chính xác để gọi họ. Không dám ví von họ với
bất cứ thứ gì, sợ làm tổn thương đến những người hay vật mà mình đề cập đến khi
so sánh. Tôi biết, khi đọc những dòng chữ này, họ sẽ cho tôi
là "quá khích", "cực đoan", "chống cộng đến chiều",
có khi họ còn thay mặt bọn cộng sản lên án chúng tôi là..."phản động"
nữa. Chắc chắn nếu họ có thể báo cho công an Việt cộng bắt bỏ tù chúng tôi được,
họ cũng làm không tha (giống như mấy "ông ăng ten" ở miền Nam sau
30-4-75 ý mà). Tôi không phủ nhận những suy nghĩ của tôi đã viết ra
đây - Tôi xin xác nhận thêm rằng, nếu cộng sản còn trên thế gian này, tôi còn
chống, không phải đến chiều, mà đến tối, đến khuya, qua tiếp ngày hôm sau và
các ngày sau nữa, khi nào hết chế độ cộng sản hoặc tôi nhắm mắt lìa đời mới
thôi. Viết những điều này ra, tôi biết tôi không cô đơn,
vì có thể không thiếu những người đồng quan điểm với tôi: yêu thiện, chống ác. Tôi và những bạn đồng quan điểm sẽ không bao giờ ủng
hộ việc tha thứ, hòa giải, hòa hợp với Việt cộng, trừ khi chúng ăn năn sám hối,
công khai nhận tội, xin lỗi quốc dân đồng bào, phục hồi danh dự cho những người
mà chúng đã kết án, lập đàn giải oan cho những nạn nhân mà chúng đã sát hại được
siêu thoát. Sau đó giao quyền cho toàn dân phán xét. Nếu có ai đó hỏi tôi vì sao lại hận thù cộng sản như
vậy, tôi sẽ thưa với họ, tôi không hận thù riêng cho cá nhân nhỏ bé của tôi. Với
bảy năm tù và những ngày cực khổ, thiếu thốn của gia đình, vợ con tôi, tôi vẫn
có thể dễ dàng tha thứ, nhất là bây giờ gia đình chúng tôi đang sống thoải mái
tại Hoa Kỳ. Nhưng xin quý vị bình tâm suy nghĩ đặt câu hỏi và tự trả lời: - Chung quanh mình, tại sao đất nước người ta sung
sướng như vậy, mà quê hương mình lầm than, khốn khổ? - Có phải do bọn cầm quyền áp đặt chủ nghĩa độc tài
cộng sản mà ra không??? - Như thế, nếu là người có chút lòng yêu nước,
thương dân, làm sao mà chúng ta không thù ghét chế độ cộng sản được. Đâu có gì
là sai, quấy!!! Từ ngày chúng cướp được chính quyền đến nay, từ Bắc
chí Nam, đã bao nhiêu lần dân lành bị tắm máu - Từ cái chết uất hận của bà Nguyễn
thị Năm, một người đàn bà từng hy sinh cả tài sản của bà nuôi dưỡng bọn chúng,
đã mở đầu cho hàng vạn cái chết của các nông dân lương thiện khác, trong cải
cách ruộng đất. Cuộc đấu tranh giai cấp tận diệt "trí, phú, địa,
hào" đã giết oan biết bao người vô tội. Rồi đến quyết tâm "giải phóng
miền Nam" đã làm tổn hao bao xương máu thanh niên hai miền. Những em bé ngây thơ vô tội phải chết banh thây
trong trường Tiểu học Cai Lậy, những người dân lương thiện phải chết tức tưởi
trong Tết Mậu Thân tại Huế, trong mùa hè đỏ lửa trên đại lộ Kinh Hoàng - Khi miền
Nam thất thủ đã có bao nhiêu người bỏ mạng vì hai chữ "cải tạo" - Từ
"cải tạo" trong các nhà tù, đến "cải tạo công thương nghiệp"
- Biết bao người bỏ mạng tại các khu kinh tế mới nơi rừng thiêng nước độc, bỏ mạng
trên biển cả, trong rừng sâu, biết bao thảm cảnh cho người dân khi liều mình,
đem thân lao vào chỗ hiểm nguy để cầu mong sinh lộ - Bao cái chết oan khuất, uất
ức do bọn cầm quyền cộng sản gây nên từ ngày chúng cai trị đất nước đến nay,
làm sao kể ra hết. Đúng là chế độ cộng sản coi mạng người như cỏ rác và tội ác
do chúng gây nên không bút nào tả xiết. Cho đến bây giờ, những tội ác đó vẫn diễn ra nhan nhản
hàng ngày - Chuyện ăn cướp công khai đất đai, tài sản của toàn dân diễn ra bình
thường từ Trung Ương đến Xã, Ấp - Dân oan khiếu kiện thì chúng đàn áp, bắt vào
tù - Thành phần dân chúng bị cướp đất, cướp nhà ngày càng đông, vì "nhu cầu
vơ vét" của bọn cầm quyền các cấp ngày càng tăng. Là người công chính không thể dửng dưng với tội ác
được. Lương tâm chúng tôi không cho phép im lặng trước sự đàn áp dã man của bọn
cầm quyền cộng sản đối với nhân dân trong nước. Chúng tôi phải cùng với mọi người,
vạch mặt, tố cáo bọn chúng - Đừng vì những lợi lộc riêng tư mà chê trách chúng
tôi "chống cộng bằng mồm" - Có mồm mà không dám nói ra những lời công
đạo thì để làm gì ? Để ngậm ống đu đủ thổi như các ông các bà đang thổi bọn cộng
sản à? Trên đời này có lẽ chỉ có mình Phạm Tuyên, con trai
Cụ Phạm Quỳnh mới có hành động "đặc biệt" đó - Cụ Phạm Quỳnh, bị Việt
minh bắt thủ tiêu (mà VM là do Hồ lãnh đạo) Hồ chỉ nói với gia đình họ Phạm một
câu: "dưới họ làm, bác không biết", như vậy là phủi tay, hết trách
nhiệm - Ông con cũng mau quên, chỉ thời gian sau ông đã gào lên một cách sung
sướng: "như có bác hồ trong ngày vui đại thắng", để ca tụng chính đứa
đã giết bố mình. Những người hải ngoại mau quên mà tôi đề cập đến
cũng tương tự tên Phạm Tuyên - Đương nhiên ở chế độ tự do hay độc tài, các ông
các bà đều có quyền... quên, vì đây là "quyền riêng" trong tâm tư của
ông bà, nhưng xin nhớ cho, quên hay nhớ chỉ có giá trị riêng tư với cá nhân các
ông bà mà thôi - Các ông các bà có thể chà đạp lên sự đau khổ của người thân,
làm tủi hổ vong linh những người quyến thuộc đã bị cộng sản giết hại, giống như
tên Phạm Tuyên, ca tụng những kẻ đã chôn sống bố mình, nhưng không được quyền
xúc phạm đến những cái chết oan khuất của các nạn nhân khác. Hô hào những người
ở hải ngoại cũng quên như các ông các bà là vô lý. Muốn toàn dân trong và ngoài nước quên hết tội ác của
Việt cộng, tha thứ cho chúng, hòa giải, hòa hợp với chúng lại ngàn lần vô lý
hơn. Bọn cầm quyền cộng sản chẳng có một tý gì là ăn năn
- Chẳng có chút gì là thành thật hối cải - Lấy tư cách gì mà các ông các bà kêu
gọi xóa bỏ hận thù, hòa hợp, hòa giải - Tôi nghĩ, nếu chỉ vì một chút lợi lộc
riêng tư mà đi ngược lại lập trường đòi hỏi dân chủ, tự do của dân, của nước,
thì các ông bà rất đáng bị lên án, vì đã đồng lõa, tiếp tay với những kẻ gây tội
ác - Nói cách khác, các ông các bà chính là tòng phạm đấy!!! Đề cập đến tội ác của Đức Quốc Xã đối với dân tộc Do
Thái - Nhà Văn gốc Do Thái Elie Wiesel, tuyên bố: - "Tôi không có quyền tha thứ cho bọn giết người
về cái tội chúng đã tiêu diệt 6 triệu người Do Thái - Quyền tha thứ hay không
là ở những người.... đã chết." Tôi
rất đồng ý với nhà văn Elie Wiesel về những lời tuyên bố trên. Mượn ý tưởng của
ông, áp dụng vào hoàn cảnh Việt Nam dưới sự cai trị tàn bạo của cộng sản, tôi cũng
xin thưa với quý vị: -
Tội ác của cộng sản Việt Nam không thể tha thứ, vì một lẽ đơn giản, chúng ta
không có quyền đó - Quyền tha thứ hay không là ở những nạn nhân mà chúng đã giết
chết bằng mọi cách, trên mọi miền đất nước, suốt từ ngày có đảng cộng sản VN đến
nay. ***********
Trong 5 Ngày Cuối Cùng Của Cuộc Chiến Tranh Việt Nam Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
Tình hình vào hạ tuần tháng 4/75 biến chuyển dồn dập. Áp lực địch ở mặt trận
phía Đông ngày càng nặng, tôi được Quân Đoàn tăng cường Trung Đoàn 8/SĐ5BB do
Trung Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng chỉ huy. Lực lượng địch và Lực Lượng Xung Kích
Quân Đoàn III giằng co dữ dội trên tuyến Hưng Lộc, Ngã Ba Dầu Giây. Tôi buộc
phải sử dụng hai quả bom CBU 55 của Không Quân Biên Hòa để chận đứng địch và giải
cứu Chiến Đoàn 52/SĐ18-BB của Đại Tá Dũng khỏi bị tiêu diệt. Ở Sài
Gòn có âm mưu lật đổ Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, tôi được móc nối đảo chánh
nhưng cương quyết từ chối và tuyên bố chống lại. phi trường Biên Hòa đóng cửa. Ngày 20/4-75 SĐ18BB của Tướng Lê Minh Đảo rút bỏ Xuân Lộc về Long Bình. Ngày
21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố từ chức. Ngay ngày hôm sau, tại
mặt trận, tôi viết thư cho Trung Tướng Charles Timmes, phụ tá Đại Sứ Martin ở
Sài Gòn, đại ý nói: “Thưa Trung tướng, trong khi tôi đang ngăn chận các sư đoàn
Cộng Sản ở đây thì cũng là lúc quốc hội Hoa Kỳ đang thảo luận có nên tiếp tục
viện trợ thêm 300 triệu Mỹ kim cho Quân Lực VNCH không? Tình hình gần như tuyệt
vọng. Tôi nghĩ rằng cho dù ngay bây giờ quốc hội Hoa Kỳ có chấp thuận viện trợ
cho quân lực chúng tôi đi nữa thì cũng đã quá muộn rồi. Tuy nhiên tôi và toàn
thể quân nhân các cấp thuộc quyền tôi nguyện sẽ chiến đấu đến phút cuối cùng.
Tôi chỉ xin Trung Tướng giúp cho gia đình tôi được di tản đến một nơi an toàn…”
Sau khi SĐ18BB được nghỉ 5 ngày bổ sung quân số và dưỡng quân, ngày 25/4/1975 Bộ
Tư Lệnh Quân Đoàn III điều động đơn vị này lên mặt trận Trảng Bom, Hưng Lộc,
Ngã Ba Dầu Giây để thay thế Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III được rút về Biên
Hòa dưỡng quân. Trung Đoàn 9/SĐ5BB được hoàn trả về hậu cứ ở Lai Khê. Lực Lượng
Xung Kích Quân Đoàn III trở thành lực lượng trừ bị Quân Đoàn.
Về tới Biên Hòa chưa kịp nghỉ ngơi, ngay chiều ngày 25/4/1975, có tin lực lượng
địch chiến trường ???) Thiết Giáp và tiến ra hướng Quốc Lộ 15. Có lệnh Quân
Đoàn, tôi liền phái Chiến đoàn 322 tăng cường 1 Tiểu đoàn TQLC do Trung Tá Nguyễn
Văn Liên chỉ huy tấn công theo hướng Ngã Ba Long Thành và trường Thiết Giáp.
Chiến đoàn vừa rời Quốc Lộ 15 tiến về hướng trường Thiết Giáp, thì chạm địch nặng
và giao tranh dữ dội với chúng đến khuya, bắn cháy 12 chiến xa T-54 buộc chúng
phải rút vào bên trong. Chiến thắng này làm nức lòng toàn dân ở Biên Hòa. Sau
khi kiểm soát kết quả trận đánh, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân đoàn
III hứa sẽ thưởng 1,200,000 đồng cho các chiến sĩ có công diệt chiến xa địch, mỗi
chiếc hạ được 100,000 đồng.
Ngày 29/4/1975 có lệnh mới của Quân Đoàn. Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III
ngoài Liên đoàn 33 BĐQ, được tăng phái thêm: Lữ đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, Lữ
đoàn 4 Nhảy Dù (1 Tiểu đoàn) và Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù, yểm trợ hỏa lực trực
tiếp có: Tiểu đoàn 46 PB-155ly và Tiểu đoàn 61 PB-106 ly Quân Đoàn.
12 giờ trưa ngày 29/4/1975, Trung Tướng Toàn triệu tập một phiên họp khẩn cấp tại
Bộ Tư Lệnh SĐ18BB ở Long Bình. Chỉ có Toàn, Đảo và tôi. Anh chỉ tay lên bản đồ
ra lệnh cho SĐ18BB của Đảo phòng thủ khu vực Long Bình và kiểm soát xa lộ Biên
Hòa, kế đó ra lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III của tôi phòng thủ bảo vệ
thành phố Biên Hòa và đặt lực lượng Địa Phương Quân (ĐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) của
Tiểu Khu Biên Hòa dưới quyền kiểm soát của tôi. Sau này đi tù, tôi mới biết
ngay lúc này phía bên khu vực SĐ25BB ở Củ Chi đã bị địch chiếm, SĐ25BB đã bị
đánh tan và Tướng Lý Tòng Bá đã bị địch bắt. Nguyễn Văn Toàn giấu tôi và Lê
Minh Đảo tin xấu này. Anh chuẩn bị sắp xếp để bỏ trốn.
Vừa nhận nhiệm vụ xong, tôi chợt thấy xuất hiện Đại Tá Hiếu, Trung đoàn Trưởng
Trung đoàn 43/SĐ18BB với giọng run run xúc động, Hiếu báo cáo: quân địch đang tấn
công Trảng Bom và Trung đoàn 43BB đang rút quân về hướng Long Bình, mặt Đảo cau
lại, Toàn nổi giận la hét Hiếu bắt Hiếu phải đem quân trở lại vị trí cũ, Hiếu
làm như tuân lệnh, chào và lui ra. Trong thâm tâm tôi, tôi biết là mặt trận
phía Đông Biên Hòa ở Trảng Bom của SĐ18BB khó có thể cầm cự nổi vì SĐ18BB đã bị
kiệt sức sau trận đánh lớn ở Xuân Lộc không được bổ sung. Sự sụp đổ chỉ là vấn
đề thời gian. Giao nhiệm vụ cho tôi và Đảo xong, Toàn đứng dậy bắt tay hai
chúng tôi và nói: “Hai anh cố gắng, tôi sẽ bay về Bộ Tổng Tham Mưu xin yểm trợ
cho hai anh.” Xoay qua tôi, anh nói tiếp: Còn số tiền thưởng 1,200,000, tôi sẽ
cho người mang đến Lữ đoàn.” Đấy là những lời nói cuối cùng của Tư Lệnh Quân
Đoàn III.
Về đến Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III, tôi liền họp các Lữ đoàn
Trưởng, Liên đoàn Trưởng, Chiến đoàn Trưởng, và các Đơn Vị Yểm Trợ. Tiểu Khu
Trưởng và Tiểu Khu Phó Biên Hòa đã bỏ trốn từ mấy ngày trưc. Trước hết, tôi ban
hành lệnh thiết quân luật ở Biên Hòa kể từ 15 giờ 00 ngày 29/4/1975, chỉ thị
cho các đơn vị ĐPQ và NQ chung quanh thị xã Biên Hòa bố trí tại chỗ, ở đâu ở
đó, không được rời vị trí, không được di chuyển. Cảnh sát Biên Hòa chịu trách
nhiệm an ninh bên trong thành phố. Triệt để thi hành nguyên tắc nội bất xuất,
ngoại bất nhập. Để phòng thủ bảo vệ thành phố Biên Hòa, tôi phối trí Lực Lượng
Xung Kích Quân đoàn III như sau:
- Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù: Bố trí trong khu phi trường Biên Hòa, giữ mặt Bắc
BTL/Quân đoàn III.
- Lữ đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến (TQLC): 1Tiểu đoàn bảo vệ BTL/Quân đoàn III,
1Tiểu đoàn bố trí phòng thủ mặt Nam BTL/Quân đoàn III.
- Lữ đoàn 4 Nhảy Dù (1Tiểu đoàn): Tổ chức phân tán thành nhiều tiểu đội chiến đấu
nhỏ, giữ Cầu Mới và Cầu Sắt Biên Hòa, và đặt các nút chận trên đường xâm nhập
vào thành phố Biên Hòa.
- Chiến đoàn 315: Bố trí án ngữ từ ngã Tý Lò Than đến ngã Tư Lò Than (gần trại
Ngô Văn Sáng).
- Chiến đoàn 322: Bố trí án ngữ từ ngã tư Lò Than đến cổng phi trường Biên Hòa
(trừ bị 1).
- Chiến đoàn 318: Bố trí án ngữ từ cổng phi trường Biên Hòa đến Cầu Mới Biên
Hòa (trừ bị 2).
- Pháo Binh: Kế hoạch yểm trợ hỏa lực.
- BTLLĐ3KB/Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III: Đặt tại tư dinh Tư Lệnh Quân Đoàn
III.
Vào khoảng 15 giờ 00 ngày 29/4/1975, tôi đang ăn cơm trưa với Bộ Tham Mưu trong
tư dinh Tư Lệnh Quân Đoàn, thì thình lình chiếc trực thăng chỉ huy của Tướng
Toàn đáp xuống bãi đáp trong vườn hoa tư dinh bên cạnh chiếc trực thăng chỉ huy
của tôi. ThiếuTá Cơ (phi công) vào chào tôi và báo cáo cho tôi biết. Sau khi rời
Long Bình, Cơ đưa Tướng Toàn và bộ hạ ra Vũng Tàu, nơi đó anh thấy có các Tướng
Lãm và Hiệp chờ Tướng Toàn, rồi cả 3 người cùng đi bằng tàu đánh cá ra Hạm Đội
Mỹ ở ngoài khơi. Tin Toàn bỏ trốn không làm tôi ngạc nhiên. Anh Cơ xin được ở lại
làm việc với tôi. Tôi đồng ý vì đơn vị trực thăng của anh giờ này không còn ở
Biên Hòa nữa.
Lúc 17 giờ 00 ngày 29/4/1975, tôi dùng xe Jeep có hộ tống đi một vòng quan sát
tình hình trong và chung quanh thành phố Biên Hòa. Tình hình chung có vẻ yên
tĩnh, dân chúng không ra đường, phố xá đóng cửa. Vào khoảng 18 giờ 00, quân cộng
sản bắt đầu xâm nhập vào mặt Bắc và Đông Bắc thành phố từ hướng phi trường đụng
với quân Biệt Cách Dù và TQLC. Giao tranh bắt đầu, 1 cánh quân BĐQ của Chiến
đoàn 315 cũng đụng địch ở gần trại Ngô Văn Sang. Địch bám sát vào tuyến phòng
thủ mặt Bắc và Đông Bắc của quân ta. Hai bên bám trận địa nằm cách nhau 10-15
mét. Cho đến giờ phút này, quân ta chiến đấu vững vàng tự tin. Không có tình trạng
bỏ ngũ. Dưới sự yểm trợ mạnh mẽ của hỏa lực Thiết Giáp, quân ta đẩy địch ra xa
tuyến phòng thủ.
Lúc 20 giờ 00 tôi gọi trại Phù Đổng ở Sài Gòn. Nơi đây là Bộ Chỉ Huy Thiết Giáp
và là nơi Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III vừa đặt bản doanh. Có trả lời nhưng không một
ai có thẩm quyền để nhận báo cáo của tôi hoặc liên lạc với tôi. Tôi gọi Trung
Tâm Hành Quân Bộ Tổng Tham Mưu, không có cách gì liên lạc được. Tôi nóng lòng
chờ lệnh của Sài Gòn. Tôi tự hỏi Đại Tướng Dương Văn Minh, tân Tổng Thống, Tổng
Tư Lệnh Quân Đội có giải pháp gì không? Có lệnh gì mới cho chúng tôi không?
Đến 22 giờ 10 có chuông điện thoại reo, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có gọi tôi ở đầu
giây: “Tôi là Trung Tướng Có đây, tôi đang ở bên cạnh Đại Tướng, anh cho chúng
tôi biết tình hình ở Biên Hòa như thế nào?” Thưa Trung Tướng, tôi giữ thị xã
Biên Hòa, Lê Minh Đảo giữ Long Bình, Toàn đã bỏ chạy, phi trường Biên Hòa địch
chiếm, áp lực địch rất nặng ở hướng Bắc và Đông Biên Hòa.” 1, 2, 3 phút trôi
qua, ở đầu giây, Tướng Có nói tiếp ” “Đại tướng hỏi anh có thể giữ vững Biên
Hòa đến 08 giờ 00 sáng mai, để Đại tướng nói chuyện với bên kia được không?”
Tôi trả lời không do dự ” Được, tôi có thể giữ vững Biên Hòa đến 08 giờ 00 sáng
mai.” Trong máy điện thoại, tôi nghe văng vẳng tiếng nói của Tướng Có báo cáo lại
với Đại tướng Minh. Cuối cùng Tướng Có nói: “Lệnh của Đại tướng cho anh: Chỉ
huy phòng thủ bảo vệ Biên Hòa đến 08 giờ 00 sáng ngày 30/4/1975. Chúc anh thành
công.” Tôi đáp nhận.
Vào khoảng 23 giờ 45 khuya, địch bắt đầu pháo dữ dội vào thị xã Biên Hòa, chúng
tập trung một lực lượng hỗn hợp bộ binh chiến xa cấp Trung đoàn từ Ngã Ba Hố
Nai – Xa Lộ tấn công về hướng Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III. Chiến đoàn 315 của
Trung Tá Đỗ Đức Thảo xông ra chận địch. Hỏa lực chiến xa M-48 của ta áp đảo địch.
Giao tranh quyết liệt. Một số chiến xa địch bị bắn cháy. Địch rút lui.
Lúc 02 giờ 00 sáng ngày 30/4/1975, Tướng Lê Minh Đảo gọi tôi ở đầu máy PC-25:
“Báo anh hay tôi bị quân địch tràn ngập, Long Bình đã bị chúng chiếm.” Tôi liền
hỏi: “Anh hiện giờ ở đâu? Có cần gì tôi không?” Đảo đáp: “Tôi hiện ở gần Nghĩa
trang Quân Đội, đang rút đi về hướng Thủ Đức.” Tôi cảm thấy đau buồn và tội
nghiệp Lê Minh Đảo vô hạn. Những năm cuối cùng của cuộc chiến, tôi và Đảo rất vất
vả. Hai chúng tôi có mặt ở khắp các mặt trận, vì Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn
III của tôi là lực lượng cơ động số 1, và SĐ18BB của Đảo là lực lượng cơ động số
2 của Quân Đoàn. Trong tù, bọn cán bộ cộng sản rất để ý đến hai chúng tôi vì đã
gây cho chúng rất nhiều tổn thất nghiêm trọng và chúng coi hai chúng tôi là hai
tên chống cộng “điên cuồng” nhất.
Vào khoảng 03 giờ 30 sáng, địch lại pháo vào Biên Hòa, lần này chúng pháo rất mạnh
và chính xác. Tôi đoán chúng định tấn công dứt điểm Biên Hoà sau khi đã chiếm
được Long Bình. Tôi chuẩn bị sẽ tung cả 3 Chiến đoàn Thiết Giáp vào trận đánh
quyết định, nhưng thật bất ngờ, chúng vừa xuất hiện 1 đoàn chiến xa dẫn đầu, bộ
binh theo sau, liền bị Chiến đoàn 315 đánh chận đầu và bọc sườn, chúng bèn rút
chạy ngược ra xa lộ. Kể từ đó, thị xã Biên Hòa trở nên yên tĩnh.
Đúng 08 giờ 00 sáng ngày 30/4/1975, tôi cố gắng gọi về Bộ Tổng Tham Mưu để liên
lạc với Trung Tướng Nguyễn Hữu Có nhưng không được. Tôi liền họp các Lữ đoàn
Trưởng, Liên đoàn Trưởng, Chiến đoàn Trưởng, và các Đơn vị trưởng Yểm Trợ.
Chúng tôi trao đổi tin tức và thảo luận tình hình ở mặt trận, tình hình trong
thành phố Biên Hòa. Áp lực địch bên ngoài không còn nữa. Chung quanh bên ngoài
thị xã, chỉ có hoạt động lẻ tẻ của du kích, bên trong thành phố vắng vẻ. Đặc biệt
đêm qua, tôi có cho tăng cường canh giữ nhà giam Biên Hòa. Không có tình trạng
dân chúng xuống đường hô hào ủng hộ cộng sản. Tôi sung sướng nhất là thấy tinh
thần của chiến sĩ ta rất tốt, không có tình trạng đào ngũ. Tuyệt nhiên cũng
không có tình trạng hãm hiếp cướp bóc trong thành phố, các sĩ quan thi hành
quân lệnh nghiêm chỉnh. Trong đêm qua có nhiều tốp lính bạn thuộc SĐ18BB rã ngũ
định chạy qua thành phố, tôi ra lệnh chận lại, đuổi họ trở ra, cương quyết
không cho vào thành phố đang giới nghiêm vì sợ có tình trạng gây mất tinh thần
rã ngũ giây chuyền như đã xảy ra ở miền Trung trước đây.
Bây giờ là 08 giờ 30 ngày 30/4/1975, tôi kết luận buổi họp: “Biên Hòa không còn
là mục tiêu tấn công của địch nữa. Tôi nghĩ rằng giờ này các lực lượng chủ lực
cộng sản BV đang tập trung tấn công Sài Gòn. Rõ ràng chúng bỏ Biên Hòa, dồn lực
lượng đánh vào Thủ Đô. Chúng ta mất liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu. Bây giờ tôi
quyết định kéo toàn bộ Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III về tiếp cứu Sài Gòn.”
Tất cả các Đơn vị trưởng ủng hộ quyết định này của tôi.
Tôi liền ban hành Lệnh Hành Quân và điều động Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III
tiến về Sài Gòn theo kế hoạch sau đây: Lấy đường xe lửa Biên Hòa-Sài Gòn và xa
lộ Đại Hàn làm hai trục tiến quân chính.
a) Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù + Lữ đoàn 4 Nhảy Dù (1 Tiểu đoàn) do Đại Tá Phan
Văn Huấn chỉ huy: Tiến bên phải đường sắt hướng Sài Gòn. Đến ngoại ô Bắc Sài
Gòn, co cụm lại, bố trí bên phải đường sắt, chờ lệnh.
b) Lữ đoàn 2 TQLC do Trung Tá Liên (TQLC) chỉ huy: Tiến bên trái đường sắt hướng
Sài Gòn. Đến ngoại ô Bắc Sài Gòn, co cụm lại, bố trí bên trái đường sắt, chờ lệnh.
c) Lữ đoàn 3 Kỵ Binh + Liên đoàn 33 BĐQ: Bố trí yểm trợ quân BCD, ND, và TQLC rời
vị trí phòng thủ, rút an toàn qua Cầu Mới Biên Hòa trước. Sau đó, lấy xa lộ Đại
Hàn làm trục chính, tiến về Sài Gòn theo thứ tự như sau:
- Chiến đoàn 315 do Trung Tá Đỗ Đức Thảo chỉ huy: Đi trước, đến ngoại ô Bắc Sài
Gòn, bố trí bên này cầu Bình Triệu, chờ lệnh.
- Chiến đoàn 322 do Trung Tá Nguyễn Văn Liên (TG) chỉ huy: Đi sau CĐ 315, đến
ngoại ô Bắc Sài Gòn, bố trí sau CĐ 315, chờ lệnh.
- Chiến đoàn 318 do Trung Tá Nguyễn Đức Dưỡng chỉ huy: Đi sau cùng, đến Sài
Gòn, bố trí sau BTL và Đơn vị Yểm Trợ, chờ lệnh.
Trước khi lên trực thăng Chỉ Huy, tôi duyệt đoàn quân lần cuối. Quân ta từ từ rời
thành phố Biên Hòa trong vòng trật tự, quân phục chỉnh tề, tác phong nghiêm chỉnh,
không hề nao núng, giống y như những lần hành quân trước đây khi còn Đại Tướng
Đỗ Cao Trí chỉ huy xông trận trên chiến trường Campuchia. Lúc này là 09 giờ 00
ngày 30/4/1975.
Tôi lên trực thăng Chỉ Huy của Tướng Toàn do Thiếu Tá Cơ lái, chiếc trực thăng
Chỉ Huy thứ hai bay theo sau. Tôi cho trực thăng bay lượn trên thành phố Biên
Hòa, quan sát thấy tình hình bên dưới vẫn yên tĩnh. Các cánh quân ta vẫn tiến đều
đặn về hướng Sài Gòn. Những ổ kháng cự, những chốt của địch dọc trên trục tiến
quân của ta bị đè bẹp hoặc bị nhổ nhanh chóng. Tôi đang suy nghĩ và lo lắng.
Tôi lo vì không liên lạc được với SàiGòn, khi quân ta về đến nơi, sợ quân bạn ở
Biệt Khu Thủ Đô bắn lầm. Tôi đang miên man suy nghĩ cách đối phó thì đột nhiên
Thiếu Tá Cơ hỏi tôi: “Thiếu Tướng có muốn ra đi không? Tôi sẽ đưa Thiếu Tướng
đi.” Tôi liền hỏi lại: “Còn anh thì sao?” “Khi đưa Thiếu Tướng đi xong, tôi sẽ
trở về, tôi sẽ ở lại với vợ con còn ở Biên Hòa.” “Cám ơn anh, tôi cũng ở lại với
anh em. Tôi đã quyết định việc này từ lâu rồi.”
Chúng tôi bay về hướng Gò Vấp, tôi biểu Cơ lấy cao độ. Xa xa phía dưới, tôi thấy
những đoàn quân xa chở đầy quân, những chiến xa, những pháo kéo của quân CSBV
như những con rắn dài trên xa lộ Biên Hòa và trên Quốc Lộ 13 bò vô Sài Gòn. Hai
trực thăng của chúng tôi đáp xuống trại Phù Đổng nơi đặt BCH TGB và BTL/Quân
đoàn III. Tôi vội đi vào văn phòng tìm sĩ quan trực. Tôi thấy các nhân viên văn
phòng chạy qua lại nhớn nhác. Tôi không gặp một ai có thẩm quyền, chỉ có 1
Trung úy mang huy hiệu Quân đoàn III, tôi nói tôi muốn sử dụng điện thoại để
liên lạc với BTL Biệt Khu Thủ Đô (BKTĐ) báo cho họ biết gấp các cánh quân của
tôi sắp về tới cửa ngõ Bắc Sài Gòn để tránh bắn lầm nhau. Tôi gọi nhiều lần, gọi
một cách tuyệt vọng, không có ai ở đầu máy trả lời. Rồi tôi gọi Trung Tâm Hành
Quân Bộ Tổng Tham Mưu, cũng không liên lạc được. Lúc bấy giờ tôi nghe nhiều loạt
đạn pháo binh địch nổ ở hướng sân bay TSN. Giờ này, các cánh quân Thiết Giáp của
tôi cũng vừa đến Bình Triệu gần khu nhà thờ Fatima.
Trong khi tôi đang lúng túng trong việc liên lạc với BKTĐ và Bộ Tổng Tham Mưu,
thì thình lình tôi nghe lời kêu gọi ngưng chiến đấu của Tổng Thống Dương Văn
Minh phát ra từ một máy thu thanh đâu đấy. Tôi nhìn đồng hồ tay: 10 giờ 25
phút.
Thế là hết. Kể từ giờ phút này, tôi tự chấm dứt quyền chỉ huy của mình và xem
nhiệm vụ của LĐ3KB và Luc Luợng Xung Kích Quân Đoàn III đến đây là kết thúc.
Tôi để cho các đơn vị tự động buông vũ khí đầu hàng theo lệnh của Tổng Thống.
Tôi không có gì để nói thêm, chỉ thầm cám ơn tất cả các chiến hữu đã cùng tôi
chiến đấu đến phút cuối cùng của cuộc chiến và cùng tôi giữ tròn khí tiết của
người chiến sĩ đối với Quân Đội và Tổ Quốc.
Quan Điểm và Kết Luận
Sau khi ngưng chiến theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, tôi bị địch bắt,
truy vấn, tù đầy 17 năm và sang Mỹ năm 1993 theo diện tỵ nạn chính trị. Mỗi năm
cứ đến ngày 30/4, tôi đọc đi đọc lại nhiều bài viết của bên cộng sản cũng như của
bên ta về cuộc chiến Việt Nam. Có không ít bài viết lờ mờ hoặc viết sai về một
số sự kiện trong cuộc chiến. Đặc biệt khi viết về Biên Hòa thì không có bên nào
nói đúng. Ai cũng biết Biên Hòa là vị trí chiến lược số 1 của miền Nam, Việt
Nam, phi trường Biên Hòa còn là nơi đặt bản doanh BTL/Quân đoàn III và Vùng III
Chiến Thuật, đầu não của bộ máy quân sự miền Đông. Biên Hòa là cửa ngõ quan trọng
bậc nhất ở phía Bắc thủ đô Sài Gòn. Để mất Biên Hòa là mất Sài Gòn, mất miền
Nam Việt Nam.
Nhưng cho đến bây giờ, tôi chưa thấy một tài liệu nào nói rõ về Biên Hòa trong
những ngày cuối cùng của chiến tranh VN. Thế mà tôi vẫn giữ im lặng cho đến ngày
hôm nay, vì nghĩ rằng cuối cùng rồi sự thật lịch sử cũng được phơi bày. Vả lại
khi viết về cuộc chiến tranh mà mình là nhân chứng trực tiếp, không khỏi phải
nói nhiều rất nhiều về mình, cái mà tôi không hề thích vì như Pascal nói: “Cái
tôi là đáng ghét” (Le moi est haissable). Nhưng anh Nguyễn Minh Tánh đã viết
sai sự thật về Lữ Đoàn 3-Kỵ Binh (LĐ3KB) do tôi chỉ huy, đã xúc phạm đến DANH DỰ
của chúng tôi nên tôi có bổn phận với những người đã hy sinh và những người còn
sống, phải cải chính và nói lại cho rõ để không phụ lòng những chiến sĩ anh
hùng đã cùng tôi chấp nhận ở lại chiến đấu đến cùng.
Những năm đầu trong ngục tù, cán bộ cộng sản luôn truy vấn tôi kịch liệt. Chúng
làm tổng kết chiến tranh để rút kinh nghiệm chiến trường, chúng ngạc nhiên trước
sức chiến đấu của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III, đặc biệt chúng bắt
tôi viết đề tài Những nguyên nhân nào mà LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn
III do tôi chỉ huy không bị tan rã trước sức tấn công của quân đội cách mạng.
Chính miệng chúng nói với tôi: “Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III là đại đơn vị
duy nhất của Quân Đội SàiGòn chiến đấu tới cùng cho đến khi có lệnh ngưng bắn.”
Chúng kể ra những thành tích chiến đấu của Chiến đoàn 318 trên chiến trường
Campuchia thời Tướng Đỗ Cao Trí của LĐ3KB và Lực Lượng Xung Kích Quân đoàn III
mà chúng gọi là những tội ác “Trời không dung Đất không tha” và kết tội tôi đã
kéo dài chiến tranh nhiều năm.
Chúng đã chọn và định đưa một số chúng tôi ra Tòa Án Chiến Tranh của chúng để
xét xử như những tội phạm chiến tranh nếu không có áp lực mạnh mẽ của Hoa Kỳ và
Cộng Đồng thế giới tự do cũng như của dư luận Quốc Tế lúc bấy giờ.
Tôi không hề ân hận việc mình đã làm, không hề hối tiếc hay than van về những hậu
quả mà mình phải gánh chịu sau khi bị bắt. Nếu phải làm lại từ đầu, thì tôi
cũng vẫn làm như thế. Tôi biết rằng làm như thế là tôi mất tất cả, mất tất cả
trừ DANH DỰ. Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi
*********** | |||||













