TRANG TRUYỆN NGẮN NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA GIẢ NGU TÌM BỌ-LÀM CHUYỆN TÀO LAO-3 THẰNG BẠN ĐÀ LẠT
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Trong sở, anh bạn Charlie cầm tập giấy đi quanh “tuyển
mộ” cầu thủ lập đội bóng chuyền; MDU sẽ bảo trợ đội bóng, nghĩa là trả các món
lệ phí và tiền mua áo may-ô cầu thủ. Đội
bóng chơi vào tối thứ Tư trong 14 tuần lễ ở sân vận động trong nhà của thành phố. Sự khuyến dụ của Charlie khiến tôi xiêu lòng xăm
mình ghi danh vào đội, mặc dù trước đây chưa từng chơi môn thể thao này. Tối đầu tiên là buổi tập thử, huấn luyện viên
kiêm trọng tài chỉ dẫn luật chơi và kỹ thuật giao banh, đỡ banh, nâng banh, đập
banh, v.v. Mười hai tuần lễ kế tiếp là
các buổi đấu thử giữa các đội cùng một league (một hạng); đội MDU xếp
vào hạng C là hạng thấp nhất. Hai ngày
cuối tuần của tuần lễ cuối thì đấu tranh giải giành cúp vô địch có khắc tên cầu
thủ toàn đội.
Đội MDU thường đấu thua, người đóng góp nhiều nhất vào
cuộc thất bại là tôi. Mặc dù các bạn đồng
đội có tinh thần cạnh tranh muốn thắng, không ai trách cứ hay than phiền khi
tôi đỡ banh trượt hay đánh banh văng ra ngoài lằn vạch trắng quanh sân. Ngược lại, khi tôi đánh một đường banh tạm được,
họ la lên khen, “Good job!” (Đánh giỏi!).
Khi đội nhà đánh thắng một đường banh, cả bọn xúm lại đưa tay lên cao
đánh vào nhau để tự tán dương.
Anh bạn Dennis cũng chơi trong đội bóng
chuyền MDU. Nếu xếp hạng, tôi đánh dở nhất
thì anh đứng thứ nhì. Trong lúc tôi thấp
và tay ngắn thường hứng hay đỡ banh hụt thì anh hay bị trọng tài bắt lỗi vì “bưng
và ném,” nghĩa là thay vì hứng hay đỡ, anh xòe cả hai bàn tay đón bắt trước khi
thảy banh sang phía đối phương. Óc hoạt
kê đặc biệt của anh lại được dịp làm việc, anh bào chữa, “Tôi giữ banh trên tay
hơi lâu vì tôi là kỹ sư chính hiệu,” và đưa ra câu chuyện khôi hài,
Một nhà toán học, một nhà
vật lý, và một kỹ sư được giao nhiệm vụ tìm thể tích một quả bóng. Nhà toán học lấy quả bóng đo đường kính rồi
tính thể tích. Nhà vật lý nhúng quả bóng
vào nước và đo lượng nước bị choán chỗ.
Anh kỹ sư cầm trái bóng quay qua trở lại rất lâu. Để tìm số kiểu hàng!
Số kiểu hàng (kiểu xe, kiểu
máy, v.v.) là số hay ký hiệu đặc thù của một sản phẩm mà nhà sản xuất đặt ra để
phân biệt với những sản phẩm khác. Ta có
thể dùng số kiểu hàng để lục tìm tính chất của sản phẩm trong mục lục hàng hóa. Sau khi đánh banh, cả hai đội – đội nhà MDU
và đội vừa giao đấu (luân phiên hàng tuần) – kéo nhau sang ba (bar) phía
bên kia đường uống bia, go Dutch (chơi theo lối Hòa Lan) phần ai nấy trả. Khác với người Việt (là tôi) khi uống bia thì
uống lấy uống để, uống cho nhiều, và nốc một hơi cho mau say, người Mỹ (là bạn
tôi) gọi bia uống thong thả, ngồi ở bàn mình hay đi quanh gặp người quen nói
chuyện rỉ rả, và cả buổi tối chỉ uống một hay hai lon bia. Họ nói chuyện nhỏ nhẹ, không rượu vào lời ra la
lối om sòm. Không ai ép bạn mình uống
theo kiểu “rượu bất khả ép, ép bất khả từ.” Khi một người cần đi về, anh đứng dậy bye-bye;
không ai nài nỉ bắt nán lại.
Tôi kể cho các bạn nghe cuộc di tản đổi
đời ra khỏi Sài gòn và nói lên tội ác của Việt Cộng và cuộc sống khốn khổ thê
lương của đồng bào ở bên nhà. Dennis hãnh
diện chỉ tay vào người tôi và đùa bỡn như thường lệ,
“Vi-Xi
(VC) không hề biết họ đã mất đi một kho tàng vô giá. Ba Hoa ra đi, tổng số IQ của các đại học
ở Sài gòn giảm xuống còn 50 phần trăm.”
IQ (intelligence quotient) là chỉ số thông minh của một
người đo được bằng cách thử nghiệm. IQ từ
85 đến 115 là mức thông minh trung bình, 130 trở lên là rất thông minh, và trên
145 thuộc hạng thiên tài. Dennis đang hướng
dẫn tôi thảo chương FORTRAN, và tôi được ông sếp để cho tự do làm dự án
mình thích nên quyết tâm vừa làm việc vừa học ngành khoa học điện toán tới nơi
tới chốn. Dennis có bằng cao học về
ngành học mới mẻ này; anh còn giữ sách giáo khoa và cả sách bài giải dành cho
giảng viên vì ngày học cao học anh làm phụ giảng cho giáo sư.
Tôi mượn sách của Dennis, ra công học hỏi, và nhờ anh
giảng giải khi có điều gì không hiểu rõ.
Nếu cần sách điện toán áp dụng mà anh không có, tôi xuất quỹ MDU đặt mua,
và sách là tài sản của công ty, trên nguyên tắc nhân viên ai cũng có thể lấy
dùng. Cần sách nghiên cứu thì tôi ra thư
viện thành phố hay lên thư viện trường đại học cộng đồng hỏi mượn. Hai thư viện này nằm trong Hệ thống Liên-Thư
viện nên nếu không có sách, họ mượn thư viện khác trong vùng và cho phép tôi giữ
30 ngày và có thể gia hạn. Khi mượn được
cuốn sách hay, ngoài giờ làm việc tôi vào sở photocopy và đóng lại thành
tập để lưu giữ. Xem ra MDU cung cấp đầy
đủ phương tiện cho tôi học hỏi, không học thật . . . phí của đời.
Khi nói chuyện với nhau, tôi và Dennis hay
dùng thuật ngữ điện toán và danh từ kỹ thuật đặc biệt ít người hiểu. Giờ nghỉ giải lao hai đứa xuống câu lạc bộ cùng
với nhau. Một hôm, một anh kỹ sư cơ khí thuộc
nha Sản xuất xuống trễ, các bàn kia hết chỗ nên đến ngồi chung bàn với chúng
tôi. Mười phút sau, anh ta cầm ly cà-phê
đứng dậy,
“Nghe
các anh nói thứ tiếng gì quái dị, tôi trở lại bàn giấy ngồi uống cà-phê một
mình dễ chịu hơn.”
Đến mùa xuân 1977, tôi nghĩ mình đã hấp thu hết kiến
thức điện toán của Dennis và có thể trội hơn vì tôi giỏi toán hơn, có căn bản khoa
học vững chắc hơn, và do tính cầu toàn, chịu khó học hỏi tường tận hơn anh. Lúc này kỹ thuật thảo chương của tôi đã vững
vàng và được Dennis và ông sếp tin tưởng và giao phó nhiệm vụ nghiên cứu
và viết các chương trình FORTRAN mới cho nha Điều hành Hệ thống Điện. Công tác bao gồm việc thiết lập phương pháp
khảo sát, thu thập dữ kiện chạy máy, viết cẩm nang cho người sử dụng, và phổ biến
đến các nhân viên kỹ thuật trong công ty.
Mùa thu năm ấy, công ty mua chiếc máy điện toán Prime
400 dành riêng cho Tổng nha Kỹ thuật Điện và đặt dưới quyền điều hành của
Dennis và tôi. Prime là một loại máy điện
toán thu nhỏ có khả năng tính toán cao và cho phép nhiều người sử dụng cùng một
lúc. Người sử dụng điều khiển trực tiếp máy
Prime bằng cách đánh mệnh lệnh vào bàn chữ của trạm điện toán (computer
terminal). Trạm này là một dụng cụ điện
tử dùng ống tia âm cực (cathode ray tube) chiếu lên màn hình mệnh lệnh của người
sử dụng và nối liền với máy Prime bằng dây cáp chạy ngầm trên trần hay dưới sàn
nhà.
Bộ phận dĩa dùng để lưu trữ dữ kiện của máy Prime chiếm
nguyên một chiếc tủ thấp nhưng chỉ có khả năng chứa 80 MB (megabyte, tức là một
triệu byte). Một flash drive USB
bằng ngón tay cái hiện nay có thể chứa 32, 64, hay 128 GB (gigabyte, tức là một
tỉ byte), tức là 400, 800, hay 1,600 lần bộ phận dĩa tân kỳ năm 1977.
Được tùy nghi sử dụng máy Prime, tôi
không mơ ước gì hơn. Tôi có quyền chạy
máy bất cứ lúc nào, áp dụng vào dự án tùy ý chọn làm, và học hỏi những điều
mình thích. Nhớ nghề dạy học cũ, mỗi chiều thứ Năm tôi mở lớp dạy các
bạn kỹ sư thảo chương
FORTRAN và luyện
thi kỹ sư chuyên nghiệp (Professional
Engineer) để đăng bộ
hành nghề ở tiểu
bang. Tôi say mê làm việc và học hỏi bất kể giờ giấc. Tôi mà vào sở ban đêm hay cuối tuần, dù chỉ định
bụng ghé một lát rồi về nhà, nhưng lúc nào cũng mải mê làm việc quên giờ về, Quỳnh
Châu phải điện thoại vào gọi về đi ngủ hay ăn cơm. Đôi khi nàng nhắc khéo,
“Chông
mê làm việc quá, cu Mạc quên mặt ba rán chịu đó.”
Dần dần tôi nổi tiếng về khả năng kỹ thuật và
thảo chương trong Tổ hợp Điện lực Vùng Điện lực Trung-Lục địa gọi tắt là
MAPP mà MDU là hội viên. Tổ hợp này gồm
cơ quan trong bảy tiểu bang Hoa kỳ và hai tỉnh Gia Nã Đại hợp thành với mục
đích giúp hội viên mua bán điện với nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Các công ty hội viên đều có máy Prime và chia
xẻ chương trình FORTRAN và dữ kiện để khảo sát hệ thống điện của toàn tổ hợp.
Giới kỹ thuật của MAPP kháo nhau tôi có biệt tài debug
có một không hai. Trong
ngôn ngữ điện toán, “debug” là tìm chỗ sai trong một chương trình điện toán, do
chữ “bug” là con bọ, là chỗ sai. Thảo
chương là một nghệ thuật theo đó thảo chương viên ghép đặt các mệnh lệnh (theo
quy tắc định sẵn) theo ý mình để hoàn tất một mục đích tính toán nào đó. Khi chương trình hoàn thành và chạy không
đúng, giai đoạn debug gian nan bắt đầu. Thảo chương viên vò đầu bứt tai, đọc đi đọc lại từng dòng
mệnh lệnh, và thử lui thử tới với các cách sửa đổi khác nhau. Phần lớn các cuộc debug mất nhiều thì
giờ nhưng rồi cũng thành công, và chương trình được sửa đổi thích ứng để sử dụng;
nhưng có một số chương trình không bao giờ “chạy.”
Là người chịu trách nhiệm về sự hoạt động của máy
Prime, tôi và Dennis thường phải nghe các bạn đồng sự than phiền khi chương trình
“cứng đầu” không chịu chạy cho đúng theo ý họ muốn. Họ cả quyết “đáng lẽ nó phải làm . . .” (nhưng
máy điện toán không làm thế) hay “chuyện . . . không thể xảy ra” (nhưng thực sự
chuyện đó đã xảy ra). Đôi khi họ quy lỗi
cho máy điện toán như “ký ức có đốm hư” hay “chương trình biên dịch chạy
sai.” Chương trình biên dịch (compiler) chuyển
mệnh lệnh FORTRAN nguồn thành ra chương trình thừa hành mà người sử dụng có thể
gọi ra và sai khiến làm việc.
Khi giúp bạn debug một chương
trình, tôi bỏ ngoài tai lời bàn Mao Tôn Cương của tác giả, lần theo từng
dòng mệnh lệnh một, kiên nhẫn kiểm chứng lại nhiệm vụ của mỗi mệnh lệnh, và nhất
là không “giả sử” nó “phải” làm như thế này, hay như thế kia. Vì tuy với cùng một mệnh lệnh FORTRAN, máy của
International Business Machines (IBM), Honeywell, và Prime có cơ cấu khác nhau có
thể đưa tới kết quả khác nhau.
Mỗi lần debug thành công, tôi về
nhà hãnh diện khoe phép thuật “giả ngu tìm bọ” của mình với Quỳnh
Châu. Nàng cười lắc đầu, không đồng ý,
“Cách
debug của anh dùng hai đức tính cần thiết. Một là kiên nhẫn, bền chí như Thomas Alva
Edison. Hai là tưởng tượng, một khí giới
tối quan trọng của nhà khoa học; Albert Einstein nói, ‘Tưởng tượng quan trọng
hơn kiến thức.’ Chồng em là một khoa học
gia đích thực, quên rồi sao?”
Được vợ khen, tôi thích chí nhưng ngoài mặt vờ khiêm
nhường giễu cợt, “Em dạy quá nhời (lời) làm chồng hỉnh mũi to bành sư
đây nè.” Và tôi yêu nàng vô cùng.
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 7 tháng Bảy, 2021
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Tôi về Sài gòn chưa tròn bốn ngày, và cơ
thể chưa thích nghi với môi trường mới.
Năm giờ sáng, tôi dậy sớm đi bộ ngoài đường tập thể dục với Song. Đi một vòng từ nhà nó ở đường Lý Chiêu Hoàng,
tới đường Nguyễn Biểu, và lên cầu Chữ Y rồi quay về. Trời còn tối đen, và trong ánh đèn nhấp
nhoáng của xe cộ đi làm sớm, hai thằng sánh vai nhau vừa đi vừa nói lan man về thuở
sinh viên ở trường Cao đẳng Điện học và cười lớn. Ngày đi học, 40 năm trước, hai thằng đi đâu
cũng có nhau, chia xẻ mọi thứ, và không giấu nhau điều gì, kể cả chuyện tình cảm
trai gái riêng tư. Mùa hè nghỉ học, khi
nó ghé nhà tôi ở Tuy Hòa, ông tài xế đùa bỡn ví chúng tôi là đôi bạn Lưu Bình -
Dương Lễ bằng câu ca dao Quảng Bình khá thô tục,
Anh
em bạn cũ Lưu tồn,
Củ
khoai chia bốn, cái . . . hồn chia hai.
Dạo ấy, Song hào hiệp, hết lòng vì bạn, và
ngang tàng không nể nang ai. Bạn bè không
đứa nào dám đấu khẩu với nó vì nó lý luận sắc bén, nói năng không thèm giữ ý tứ,
và có khi dùng lời lẽ sống sượng đến tục tĩu.
Song bỗng nhớ đến Công, bạn học và bạn thân của tôi từ thời Quốc học Huế,
“Bên
đó mày hay gặp thằng Lẹ Tiềng không?”
“Lẹ tiềng” là “lẻ tiền” phát âm theo giọng nặng trịch ở quê Công là vùng
Phú Lộc gần núi Túy Vân tỉnh Thừa Thiên.
“Nó ở
Texas, tao ở North Dakota; thằng bắc, thằng nam nên mỗi năm chỉ gặp nhau một,
hai lần. Tụi tao nói chuyện điện thoại
thường hơn.”
Ngày đó, Công được nhận dạy kèm tư gia ăn
ở tại nhà cho Bách Hoa, con đầu lòng một gia đình giàu có và có thế lực, sau cuộc
kén chọn kỹ lưỡng của mẹ nàng. Nó vừa có
lương dạy kèm vừa được cơm bưng nước rót và cho ở riêng trong căn phòng nhỏ
khang trang trên sân thượng có giường nệm, bàn học, tủ sách, và quạt máy. Nó tằn tiện chi li nên tiền nhà tiếp tế gửi ngoài
Huế vào và lương dạy kèm ít khi sứt mẻ.
Tôi và Song vung tiền líu lo vào cà-phê thuốc lá và xi-nê và đến
cuối tháng kẹt tiền, mày mò đến mượn nó.
Một hôm đầu tháng vừa lãnh lương dạy kèm, tôi mang 1,000 đồng gồm hai tờ
bạc năm trăm mới toanh tới trả nợ. Cất
tiền cẩn thận vào tủ, nó hỏi tôi,
“Mi
còn tiền không, cho tau hai chục đồng.”
“Tao
vừa trả mày một ngàn đồng đó, bộ hết tiền rồi hay sao?” tôi ngạc nhiên hỏi lại.
“Lấy
hai chục ra, hắn lẹ tiềng đi,” nó trả lời; từ đó “Lẹ Tiềng” thành chết
tên.
Bách Hoa đâm ra yêu ông thầy dạy kèm, và bà mẹ cũng
khuyến khích nàng. Nàng lãng mạn mộng
mơ, hay ghen tuông vô cớ, và thích chỉ huy sai khiến khiến Công điêu đứng khổ sở.
Liên hệ tình cảm với học trò dạy kèm – nồi
cơm của mình – là điều đại cấm kỵ đối với tôi và Song nên những lần ngồi uống
cà-phê ở quán hủ tiếu đầu đường gần nhà
trọ tôi, hai thằng trêu chọc Công không thương tiếc. Rồi một hôm nó nhận được tin dữ: Trong lần khám sức khỏe (bắt buộc) hằng năm,
bác sĩ thấy vết nám trên bản chụp phổi bằng quang tuyến X, và ra lệnh nghỉ học
ba tháng để tĩnh dưỡng, xem như tuyên án cậu sinh viên đệ nhất niên đầy triển vọng
phải chịu ở lại lớp.
Tối hôm đó, ba
thằng họp lại tại quán hủ tiếu. Chúng
tôi quyết định không cho gia đình Công ngoài
Huế biết nó phải nghỉ học. Tôi và Song sẽ lấy cua (bài giảng in ronéo) về cho nó học ở nhà và thay nhau giảng
bài cho nó để đến cuối lục cá nguyệt, nó vào trường thi như các sinh viên khác. Xem như vẫn đi học bình thường. Giúp bạn thì giúp, nhưng “tội lỗi” không thể
tha thứ; Song vặn hỏi,
“Có phải tại mày may tay quá độ mà
bị nám phổi không?” “May tay” là tiếng
lóng chỉ hành động tự dùng tay thỏa mãn tình dục của bọn con trai mới lớn.
“Cũng hơi có . . .” Công ngượng ngập
trả lời.
“Mày mà ‘hơi có’ thì ai ‘đêm
bảy, ngày ba, ra vào thêm nếm không kể’ cho? Coi hai cánh tay của
mày, tay phải lớn hơn tay trái. Còn cãi đường
nào?” Song nói như thật.
“Đàn ông phải dâm dục mới là người thông minh. Mi
coi gương Napoléon đó!”
Công gắng gượng
biện hộ, trong lúc Song làm bộ nghiêm nghị.
“Hai đứa tao sẽ hết lòng giúp mày. Với một điều kiện.”
“Chuyện chi tau cũng chịu,” Công xuống nước.
“Cấm mày suốt
ngày ăn xong rờ l… con Bách Hoa. Cứ tiếp
tục làm vậy là chết sớm thôi
con ơi!” Song cố nín cười.
Tôi bùi ngùi nói với Song,
“Mới
đó mà đã gần bốn chục năm. Ra trường, thằng
Công cưới con Bách Hoa rồi qua Mỹ học ngành điện toán. Con vợ cũng qua Mỹ theo. Nó thành công vượt bực trong việc học hành và
nghiên cứu khoa học rồi rút lui sống tu hành ẩn dật, nghiên cứu và thuyết giảng
Phật pháp.”
“Có
phải hồi xửa hồi xưa ở ngoài Huế, thằng Lẹ Tiềng mê đạo Phật và dụ mày
lên chùa học đạo với ‘sư phụ’ nó?
“Đúng
vậy. Có lần hai thằng tao xin quy y mà
thầy không cho.”
“Do đó, mày nhân từ
và tốt bụng hơn hết trong đám bạn mình. Khổ
nỗi chính vì lòng thương người của mày mà tao phải chạy đôn chạy đáo, hối lộ từ
trên xuống dưới để cứu con bạn mày và khỏi bị rắc rối với nhà nước.”
“Thấy
dân mình đói khổ nên tao ngu xuẩn tin rằng dầu sao Việt Cộng cũng còn một chút
lương tâm nghĩ tới phúc lợi của dân chúng.
Tao đã lầm to,” tôi xin lỗi Song, trong khi chuyện cũ hiện lên trong tâm
khảm như một cuốn phim quay chậm.
* * *
Việt Cộng (“VC”) vào, Song được “lưu dung” làm việc tại
công ty điện lực. Cuộc sống khắc nghiệt
và khốn khó thúc đẩy vợ chồng nó đưa bốn đứa con, hai trai hai gái, đi vượt
biên. Chuyến đi bại lộ, ghe bị công an
biên phòng đuổi theo bắt được, vợ nó và hai bé gái út chết ngộp dưới khoang
ghe, và nó bị bắt giam tù. Được thả sau hơn
một năm ngồi tù và về Sài gòn bị Điện lực đuổi, nó làm nghề sửa chữa động cơ điện
và máy biến thế tư gia để sinh sống. Dần
dần, nó và vợ sau là Hải Quyên khuếch trương cơ sở thành công ty sản xuất dây
điện từ dùng trong dụng cụ điện để cung cấp cho Điện lực và các cơ xưởng kỹ nghệ.
Song đã trở thành một kỹ nghệ gia có tăm
tiếng, giàu có, và giao du rộng. Bạn học
cũ của nó có đứa làm tới “trưởng phòng” (tương đương với phó tổng giám đốc ngày
trước) của Điện lực. Ở Hoa kỳ, ngoài nhiệm
vụ giám đốc kế hoạch ở công ty tiện ích, tôi được Tổ hợp Điện lực Trung-Lục
địa (gọi tắt là MAPP) đề cử làm đại diện trong Tiểu ban Thẩm định Khả
năng Đáng Tin cậy của hệ thống điện Bắc Mỹ (gọi tắt là RAS). Tiểu ban gồm đại diện mười vùng điện
lực Bắc Mỹ trong đó MAPP là một, và đại diện hai chính phủ Hoa kỳ và Gia Nã Đại. RAS thẩm định mạng lưới liên kết Bắc Mỹ,
phúc trình khuyết điểm có thể đưa tới các vụ cúp điện rộng lớn, và
đề nghị những biện pháp phòng ngừa.
“Anh khuyên cháu nên làm gì
để sửa soạn cho chuyến đi này?”
Biết ý Douglas nhờ tôi giúp đỡ khi con
anh đến Việt nam, tôi khấp khởi mừng thầm.
Peter có thể là cái tuy-dô (tiếng Pháp “tuyau” là đường dây thế lực)
rất lớn để Điện lực bên Việt nam tiếp xúc với Douglas và xin viện trợ của Gia
Nã Đại. Tôi ghét cay ghét đắng bọn VC cầm
quyền, nhưng không đành lòng bỏ quá các dự án điện lực, mỗi dự án trị giá từ năm,
bảy trăm triệu đến một tỉ đô la, có thể giúp đồng bào bên nhà bớt khổ. Sau buổi họp RAS đó, tôi viết ngay điện thư
cho Song, trình bày cơ hội hiếm có, và mong nó và các bạn làm Điện lực cố gắng
thực hiện. Nó viết trả lời,
Tao và các bạn mình hoàn
toàn đồng ý với mày. Mày nói với ông Douglas
là tụi tao sẽ hết lòng khoản đãi và hướng dẫn Peter đi xem phong cảnh khi cậu ta
đến Việt nam. Tao sẽ cho người đưa cậu đi
viếng cảnh Sài gòn, Đà Lạt, và Huế. Tụi
tao sẽ không bỏ lỡ dịp này đâu!
Douglas cho biết chương trình thăm viếng của Peter: Tháng Mười, cậu bay từ Ottawa thủ đô Gia Nã Đại
sang Thái Lan và Cam Bốt rồi đến Việt nam, và sau đó đi Trung hoa và Nhật Bản. Tôi và các bạn cũng như cậu sinh viên trẻ không
thể ngờ được rằng các sự biến chính trị quốc tế lại gây khó khăn rối rắm cho chúng
tôi đến như vậy.
Đầu tiên, cuối tháng Tư, Hà nội thình
lình hành hình bà Trần thị Liên người Gia Nã Đại gốc Việt bị giam giữ về tội
buôn bạch phiến, mặc dù chính phủ Gia Nã Đại đã yêu cầu VC xét lại. Bà Liên một mực kêu oan, nói mình và bà mẹ 74
tuổi bị người ta lừa nhờ mang bạch phiến giùm, nhưng bà không hề hay biết. Chính phủ Gia Nã Đại phản đối mạnh mẽ và tạm
ngưng các chương trình viện trợ kinh tế, quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng,
và du khách mang thông hành Gia Nã Đại như Peter bị công an VC làm khó dễ đủ điều
ở các phi trường.
Từ Nam Vang, Peter bay sang phi trường
Tân Sơn Nhứt nhằm tuần lễ Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton viếng thăm Việt nam. Chuyến công du sẽ mở đường cho doanh nhân Hoa
kỳ và thế giới vào đầu tư, giúp mở mang kinh tế, và cứu gần 100 triệu dân Việt
nam sắp bị chết đói. Mời được Clinton sang thăm, bọn chóp bu VC sướng
muốn chết, nhưng làm bộ lạnh nhạt với “đế quốc Mỹ.” Chúng chỉ chào mừng Clinton bằng một tấm biểu
ngữ và chỉ loan báo chuyến công du của ông bằng bản tin trên đài truyền thanh
và truyền hình. Không dè, ở Hà nội cũng
như Sài gòn, hàng vạn người dân ùa ra đường chen nhau chào đón và bắt tay vị tổng
thống trẻ tuổi đẹp trai và bình dị. Hà nội
đâm ra hoảng hốt, sợ dân chúng thừa dịp biểu tình đòi nhân quyền và chống chính
phủ, và ra lệnh cho công an ráo riết canh phòng bọn “phản động.”
Mặt khác, lựa lúc Clinton sang Việt nam, người anh hùng Lê Táng ra tay hành động. Anh sinh năm 1946 tại Huế và vốn là phi công quân đội Việt nam Cộng hòa. Năm 1975 máy bay anh bị bắn rơi, và anh bị bắt và giam tù “cải tạo.” Năm năm sau, anh vượt ngục rồi vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan qua ngả Cam Bốt, xin tỵ nạn chính trị tại Singapore, và đến Hoa kỳ tỵ nạn. Anh đã vài lần tổ chức cướp máy bay để rải truyền đơn chống Cộng ở một số quốc gia Cộng sản. Lần này, anh sang Thái Lan giả vờ học lái máy bay, lấy phi cơ bay về Sài gòn, và thả 50 ngàn tờ truyền đơn ký tên “Liên minh Toàn cầu Nổi Dậy Chống Cộng” hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền VC. Việc này khiến cho toàn bộ hệ thống công an báo động, túa ra khắp nơi truy lùng “gián điệp và tay sai đế quốc.”
Không hay biết chiếc bẫy giăng sẵn chờ
mình, Peter vô tư đến Sài gòn, vào khách sạn, và như đã hẹn, gọi điện thoại cho
Song. Đang bị công an bố trí canh chừng
cẩn mật, bạn tôi nói ngay,
“Chúng
tôi không thể gặp cậu. Cậu phải cẩn thận
và cần khai thực là không hề quen biết chúng tôi.”
“Tại
sao?” Peter chưng hửng.
“Bạn
tôi bên Mỹ sẽ giải thích cho cha cậu biết sau.
Chúc cậu may mắn!”
Ngay sau đó, công an ập vào “mời” Peter về trụ sở “làm việc.” Sau hai ngày đêm bị tra hỏi gắt gao, nhưng không có gì để cung khai, Peter bị giải ra phi trường đưa ra Hà nội rồi đẩy sang Trung hoa. Song phải chạy chọt, nộp khối tiền hối lộ cho bọn công an lớn nhỏ, và trả tiền vé cho các chuyến bay được chỉ định để cậu rời Việt nam an toàn.
Nghĩ lại, chỉ một ý định giúp đồng bào mà xuýt gây họa
cho bạn bè. Đã hai thứ tóc trên đầu, tôi
còn làm chuyện tào lao! Sao không
nhớ VC là bọn người vô lương tâm?
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 8 tháng Mười, 2025
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Sau một tuần ở Sài gòn, khi nỗi háo hức trở về quê cũ và
niềm vui gặp lại bạn bè dịu xuống, tôi ho dữ dội về đêm và ngại ngùng khi phải
ra ngoài. Bụi bặm và khói xe dày đặc đến
nỗi chỉ một ngày đi đầu trần ngoài đường, tối về tôi thấy tóc mình dính bết lại
như thể được chải bi-dăng-tin (tiếng Pháp “brilliantine”). Xe cộ, phần lớn là xe gắn máy, mạnh ai nấy chạy,
giành đường nhào tới bất chấp luật lệ lưu thông, và nhấn còi tin tin liên tục,
không cần biết có ai nghe hay không. Người
ta đội mũ mang khăn che kín mặt trông như quái vật từ hành tinh lạ. Trong khi đó, các nhà và cửa tiệm mở máy hát hết
cỡ từ sáng sớm đến đêm khuya, và âm thanh hỗn độn vang dậy từ ngõ hẻm đến đường
phố. Có lẽ vì vậy dân Sài gòn nói chuyện
lớn tiếng như hét vào mặt nhau.
Ra đường, tôi luôn luôn bị gọi giật lại mời mua một thứ
gì đó. Khi tôi từ chối, “Dạ không, cám
ơn,” trẻ em cũng như người lớn đều nặng lời mắng nhiếc, “Đồ ‘Việt kiều’ gì mà .
. .” (Có lẽ có một tấm biển “Việt kiều”
vô hình nào đó trên trán hay sau lưng tôi!)
May thay, trong hai tuần lễ còn lại, tôi không còn chịu khổ sở ở “thành
phố đã mất tên” này bao nhiêu ngày nữa.
Chúng tôi đã thuê khoán chiếc xe du lịch có tài xế để đi thăm miền Trung
và sau đó bay ra Hà nội xem miền Bắc một lần cho biết.
Trước khi chúng tôi lên đường, vợ chồng Lộc
hẹn đi ăn phở ở tiệm phở Tàu Bay trên đường Lý Thái Tổ để chia tay vì hai người
cũng sẽ trở về Đà Lạt. Nếu Tàu Bay là tiệm
phở quen thuộc của tôi và Lộc thời đi học, Trâm Anh vợ Lộc cũng không phải là
người xa lạ. Trong chuyến du khảo nhà
máy thủy điện Đa Nhim cuối năm đệ tam niên trường kỹ sư, bọn sinh viên Điện chúng
tôi có dịp sinh hoạt với sinh viên các ký túc xá của viện Đại học Đà Lạt, và trước
khi buổi sinh hoạt bắt đầu, cô cháu họ Nhật Lệ gọi tôi bằng “ông” đưa Trâm Anh tới
giới thiệu với tôi trong lúc Lộc đứng kế bên,
“Trâm Anh học sư phạm
ở chung phòng với em. Hắn quê Tuy
Hòa và hay nghe em kể về ôông nên muốn làm quen.” Tôi nhớ ra Trâm Anh trước học trường trung học
Nguyễn Huệ Tuy Hòa và có tên trong danh sách “những cô gái đẹp nhất” của Sang
em kế tôi.
“Hân
hạnh được biết Trâm Anh,” tôi lúng túng cười duyên.
“Ôông
tau biết danh và hâm mộ mi lắm,” Nhật Lệ tâng bốc bạn.
“Anh Ba
Hoa ở Tuy Hòa ai mà không biết. Sao
lâu nay không thấy anh về chơi?” giọng Phú Yên ríu rít và cất lên cao ở cuối
câu của Trâm Anh nghe như chim hót.
Không dè, Lộc bị tiếng sét ái tình đánh trúng ngay phút
đầu tiên gặp mặt Trâm Anh. Lộc làm quản
trò điều khiển chương trình nhưng mắt không rời cô thiếu nữ xinh đẹp dịu dàng như
muốn ghi khắc từng dáng điệu cử chỉ của nàng.
Bạn tôi đã tìm thấy đối tượng yêu thương. Hè năm sau, sau khi chúng tôi tốt nghiệp, tôi
trở lại Tuy Hòa làm phụ rể cho đám cưới của hai người, và Nhật Lệ là một trong
bốn cô phụ dâu.
Trâm Anh cảm động mắt chớp chớp mắt khi tôi
nhắc cuộc gặp gỡ định mệnh hơn 35 năm trước.
Đêm ấy, trên đỉnh đồi cao vắng lặng, từng cặp nam nữ sinh viên Điện và Đà
Lạt xen kẽ nắm tay nhau bước quanh lửa trại bập bừng và hát to bài “Việt nam
Quê hương Ngạo nghễ” của Ngô Đức Vinh,
Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn
Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang
Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm
Đôi mắt ta rực sáng theo
nhịp xích kêu loàng xoàng . . .
Tác giả bài hát là bạn thân của Lộc từ
ngày học trường trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt; hai đứa đồng hành trong các sinh
hoạt hướng đạo, văn nghệ, và về sau là du ca. Khoảng hai năm trước đêm lửa trại của chúng
tôi, chính hai đứa đã góp phần thành lập Du ca Việt nam, một tổ chức thanh niên
có mục đích giáo dục thế hệ trẻ bằng cách trình diễn văn nghệ và hoạt động cộng
đồng, và Lộc giữ chức vụ chủ tịch lâm thời trước khi phong trào họp đại hội bầu
chủ tịch chính thức.
Vinh có năng khiếu âm nhạc và ham mê sáng tác từ ngày mới
lớn; ca khúc đầu tay là bài hát hướng đạo “Gươm Thiêng Hào kiệt.” Đầu thập niên 1960, nó chuyển hướng sáng tác sang
chủ đề “Tuổi Trẻ, Quê hương, và Dân tộc” diễn tả suy tư của một thế hệ sinh ra
và lớn lên trong chiến tranh với những bài “trầm ca,” tức là bài hát trầm tư; tiêu
biểu là bài “Nỗi Buồn Nhược tiểu.” Nó cùng
một số bạn cựu học sinh Trần Hưng Đạo lập một ban nhạc không tên, không chuyên
nghiệp trình diễn tự nguyện với phong cách mới mẻ: Người tham dự không chỉ nghe hát và vỗ tay tán
thưởng mà cùng hát với nhạc sĩ trên sân khấu theo tinh thần “hát hay không bằng
hay hát,” “hát với nhau,” và “cùng nhau hát.”
Tháng Chạp năm 1965, ban nhạc chính thức ra mắt bằng
hai buổi trình diễn tại viện Đại học Đà Lạt:
Đêm đầu tại giảng đường Spellman với sự tham gia của Phạm Duy, ông hát
những bài “Tâm ca” mới sáng tác. Đêm sau
tại giảng đường Thụ Nhân với xuất hiện của ca sĩ hát dân ca Hương Anh; sau đó
cô gia nhập và trở thành giọng nữ duy nhất của ban nhạc. Rồi ban nhạc lấy tên Trầm Ca; đó là điểm khởi
đầu của phong trào du ca.
Trong thời gian này, tôi theo Lộc lên Đà Lạt chơi mỗi
lần nó về thăm nhà, và thường gặp Vinh và thằng bạn thân kia của Lộc là Liễn sinh
viên văn khoa hát trong ban Trầm Ca. Bốn
thằng thường ra tiệm Shanghai gần chợ Hòa bình uống trà sữa, thức uống thông dụng
của sinh viên địa phương. Tôi thường phải
làm “đầu tàu” trả tiền vì ba chàng nghệ sĩ du ca còn nương tựa cha mẹ, trong
khi dù bỏ nhà đi bụi đời nghèo xác xơ, tôi đi dạy tư và có tiền riêng.
Tốt nghiệp Cử nhân Chánh trị Kinh doanh, Vinh dự thi kỳ
thi tuyển tham vụ ngân hàng (để làm giám đốc ngân hàng tại các chi nhánh địa
phương) của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đặt trụ sở tại bến Bạch Đằng Sài gòn. Nó đậu cao và được chọn phục vụ tại sở Kế hoạch
tại trung ương. Khi thời hạn hoãn dịch
vì lý do học vấn chấm dứt, nó bị gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường
với cấp bậc chuẩn úy, và được biệt phái về làm việc tại nhiệm sở cũ.
Việt Cộng (“VC”) vào, Vinh bị đi tù “cải tạo” ba
năm. Ra tù ít lâu, nó dắt vợ con vượt
biên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai Á rồi sang Hoa kỳ tỵ nạn, định cư tại khu Little
Saigon ở nam California. Sau khi lần lượt
làm giám đốc trị sự, chủ bút, và tổng giám đốc nhật báo Ngàn Việt là tờ
báo nổi tiếng nhất của người Việt hải ngoại, nó sáng lập nhật báo Trường
Xuân rồi cộng tác với bạn bè lập một công ty truyền thông và làm một số tờ
báo khác.
* * *
Bốn người chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò
rộn ràng, từ chuyện cũ đến chuyện mới. Nhắc
lại người bạn thân thiết ngày xưa, Lộc hỏi tôi,
“Qua
bên Mỹ, mày hay liên lạc với thằng Vinh không?”
“Nó
ở Little Saigon là nơi đô hội của người Việt và được mọi người biết tên biết tiếng. Tao ở xứ North Dakota hẻo lánh xa xuôi và chẳng
ai thèm biết tới. Hai thằng hai thế giới
khác nhau nên ít có cơ hội gặp gỡ,” tôi lắc đầu.
“Năm
kia, vợ chồng nó về Đà Lạt ăn tết, nó nói có lần mày gọi điện thoại hỏi lăng
quăng gì đó mà nó không nhớ.”
“Ờ, đó
là lần NASA phóng Viễn vọng kính Không gian Hubble lên không gian,” tôi nhớ ra,
“Tạp chí Xxxx Việt ở Toronto [Gia Nã Đại] kêu tao viết một bài về biến cố
khoa học trọng đại đó, và tao gọi cho thằng Vinh để hỏi lời một bài hát.” NASA là Tổng nha Hàng không và Không gian Quốc
gia Hoa kỳ.
Viễn vọng kính nói chung là dụng cụ dùng
để quan sát “sao trên trời” nên để bài báo bớt khô khan, tôi dự định dặm thêm một
số câu trong bài hát “Bài Ca Sao.” Tôi chỉ
nhớ lõm bõm lời bài hát nên gọi điện thoại hỏi Vinh vì nghĩ nó là tác giả. Gọi nó tại nhà đến lần thứ ba mới gặp; buổi tối
nó vừa đi nhậu với bạn về, còn say rượu, và nói không nhớ lời vì tác giả là người
khác – Phạm Duy. Tôi gọi Phạm Duy và lần
này được ông niềm nở đọc lời cho tôi chép và hát cả bài từ đầu đến cuối cho tôi
nghe. Kết quả là bài viết của tôi mở đầu
với bốn câu đầu của bài “Bài Ca Sao,”
Sao Tua chín cái nằm kề,
Thương em từ thuở mẹ về với cha.
Sao Vua sáu cái nằm xa,
Thương em từ thuở người ra người vào.
Tôi nhớ đến Liễn và hỏi Lộc,
“Thằng Liễn vẫn ở Đà
Lạt? Tao nghe nói bây giờ nó có họ mới và
thành Mạc Thái Liễn, thay vì Huỳnh Thái Liễn như xưa.”
“Cha nó họ Mạc người Thanh
Hóa và mẹ nó người Hà Tĩnh vào Di Linh tỉnh Lâm Đồng lập nghiệp. Khi bà mẹ mang thai nó, người cha theo Việt
Minh đi kháng chiến biệt tích. Bà mẹ sinh
nó rồi tái giá. Từ nhỏ đến lớn, nó sống
với cha dượng và mấy người em cùng mẹ khác cha, và mang họ Huỳnh của ông. Mãi đến năm 1975 gặp mặt cha ruột, nó mới đổi họ
thành Mạc như ông ta,” Lộc giải thích.
Ngày gặp Liễn, tôi mơ hồ biết nó sống và học trung học
đệ nhất cấp ở Di Linh đến năm 14 tuổi mới lên Đà Lạt học Trần Hưng Đạo và sau
đó học triết tại Đại học Văn khoa Đà Lạt.
Dáng người bé nhỏ, nó ăn mặc diêm dúa, và áo quần lúc nào cũng đúng mốt. Gia đình cha dượng nó giàu có, làm chủ một
khách sạn khá lớn ở dốc đường Hai Bà Trưng dẫn lên chợ Hòa bình.
Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Triết, Liễn về Sài gòn học
cao học tại Đại học Văn khoa Sài gòn. Sau
hai năm, không hoàn tất tiểu luận cao học, nó bỏ dở và nhờ gia đình vận động, được
nhận làm phụ khảo tại Đại học Văn khoa Đà Lạt.
Khoảng một năm sau, thời hạn hoãn dịch vì lý do học vấn chấm dứt, nó bị
gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức. Ngày ra trường, thay vì trình diện đơn vị chờ
viện đại học can thiệp với bộ Quốc phòng cho biệt phái về trường dạy lại, nó
đào ngũ và nhảy vô bưng theo VC.
Những năm đầu thời VC, Liễn bị bỏ xó. Chúng nói những người học triết như nó đã bị
nhiễm độc về mặt tư tưởng và cần học hỏi thuần nhuyễn triết học Marx - Lenin mới
có thể giao công tác. Nó để ra gần ba
năm đi học “trường Đảng” và được cấp bằng “Đại học Sư phạm Chính trị” để được
phép dạy trung học. Bị gây khó dễ đủ điều
khi dạy học, nó xin chuyển sang làm việc cho thành phố Đà Lạt, ra ứng cử hội đồng
Nhân dân Thành phố và đắc cử chức phó chủ tịch, và chỉ làm một nhiệm kỳ thì rút
lui.
Cuối thập niên 1980, Liễn và các bạn trong hội Văn nghệ
Lâm Đồng chủ trương tạp chí Lang Bian (Lâm Viên). Tờ báo chỉ ra được ba số, nhưng gây được một tiếng
vang lớn. Trên tờ Lang Bian, nó
viết một bức thư nẩy lửa cho ban chấp hành Hội (do nhà nước điều khiển) nêu ra cơ
chế bất hợp lý và vi phạm dân chủ trong chính sách của nhà nước. Một điều tối cấm kỵ! Giữa thập niên 1990, nó công khai bất đồng
chính kiến với nhà nước và là một trong bốn thành viên đầu tiên của nhóm “bất đồng”
Thân hữu Đà Lạt. Ba người kia là Hà Sĩ
Phu, Bùi Minh Quốc, và Tiêu Dao Bảo Cự. Bất
đồng quan điểm với nhà nước VC không phải dễ dàng. Bị gây khó khăn liên tục, theo dõi từng bước đi,
và đe dọa tù đày, nhưng Liễn không lùi bước.
Thời cuộc đổi thay, ba thằng bạn Đà Lạt năm xưa
mỗi đứa mang một số phận khác nhau. Nhưng
khi nhớ lại, tôi vẫn thấy ba đứa ôm đàn đứng bên nhau hát trên cái sân khấu nhỏ
ở thành phố mù sương năm ấy. Và rốt cuộc,
chính ký ức đó mới là điều còn lại.
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 29 tháng Mười, 2025
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày thứ hai của chuyến đi miền Trung bằng xe thuê có
tài xế, chúng tôi rời Phan Thiết bằng con đường dọc theo bờ biển ra Mũi Né, một
địa điểm nổi tiếng tôi chưa từng ghé tới mặc dù đã viếng Phan Thiết gần chục lần. Lần này, tôi hy vọng sẽ có dịp chiêm ngưỡng từ
xa vài điểm đặc sắc của vùng này. Thí dụ
như di tích lịch sử lầu Ông Hoàng, một biệt thự nằm trên đồi do Công tước De
Montpensier cháu nội vua Louis-Philippe Đệ nhất của Pháp xây lên vào đầu thế kỷ
thứ 20. Ngoài ra, bãi Rạng yên bình là bãi
biển lý tưởng để ngắm nhìn; hòn Ghềnh, còn gọi là hòn Lao, là một đảo nhỏ gần bờ
với cảnh thiên nhiên hoang sơ và nước biển trong xanh; và những đồi cát thơ mộng
có hình dáng đặc biệt thay đổi theo giờ, ngày, và tháng.
Chẳng bao lâu, tôi khám phá ra bãi biển
và cảnh đẹp ven đường đã bị che khuất bởi những rì-dọọc (“resort” hay
“khu nghỉ dưỡng” là khách sạn trang bị thêm phương tiện giải trí cho khách tiêu
khiển) hai bên đường. Anh tài xế, một
thanh niên trạc 31, 32 tuổi, nhắc nhở một thực tế khó ngửi,
“Cô
chú là ‘Việt kiều’ muốn coi cảnh đẹp Mũi Né phải vô ở trong mấy cái rì-dọọc
và mua vé đi tua [tour].”
Khi tôi muốn tìm nơi trống trải để ngắm phong cảnh, tài
xế cho xe vào một khu đất rộng xa các rì-dọọc và ngừng lại trước một
ngôi nhà lớn hở vách có những tấm bảng lớn sơn đỏ ghi chi chít tên họ. Tôi xuống xe nhìn quanh, dường như đó là
nghĩa địa của một bang Hoa kiều. Tôi lạnh
xương sống nhận ra đã từng thấy cảnh trí này trong một số giấc mơ gần đây.
Số là trong những năm mới trưởng thành, tôi thường có
linh tính báo trước quãng đời tương lai của mình. Chẳng hạn, vào năm cuối bậc trung học tôi nhất
định sẽ làm kỹ sư điện và chỉ nộp đơn xin thi vào trường Cao đẳng Điện học. Nhưng trước khi đậu vào trường, nhiều đêm tôi
nằm mơ “thấy” mình cầm viên phấn đứng trước bảng đen giảng bài, khác hẳn với ước
mơ ban ngày – làm kỹ sư mặc đồ ka-ki đội nón an toàn và xắn tay áo đứng
chỉ huy giữa công trường.
Năm sau, điều tôi “thấy trước” dần dần thành thực. Trong thời gian học trường kỹ sư, tôi đi dạy
kèm tư gia và trường trung học tư để kiếm sống.
Ngày tốt nghiệp, khóa kỹ sư điện gặp khó khăn vì không có đủ cơ quan tuyển
dụng, và tôi không muốn tranh giành chỗ làm với bạn đồng khóa cần việc làm hơn
nên tiếp tục học lên tiến sĩ kỹ sư tại Đại học Khoa học Sài gòn. Sau đó, làm giảng viên tại Đại học Minh Đức
là một đại học tư và sau cùng trở về trường mẹ ôm thêm một chức vụ giảng huấn. Thế là tôi trở thành . . . giáo gian –
như các bạn gọi đùa.
Trong những năm dạy học, tôi bỏ ý định đi du học và không
bao giờ nghĩ mình sẽ sống ở ngoại quốc, mặc dù ông nhạc xem tướng và cả quyết
thế nào tôi cũng xuất ngoại. Về hưu sau
nhiều năm làm việc ở bộ Quốc gia Giáo dục, ông ra công nghiên cứu phép coi tướng
đông phương cũng như kinh Pháp Hoa, tức là Diệu pháp Liên hoa kinh, bộ kinh
quan trọng chứa đựng quan điểm chủ yếu của Phật giáo. Tuy nhiên, nhiều đêm tôi nằm mơ “thấy” mình
ngồi làm việc trước một dụng cụ mà sau này tôi mới biết là màn ảnh điện toán,
hay đứng thuyết trình trước một đám người ngoại quốc. Đùng một cái, Tháng Tư Đen xảy đến, và nước mất.
Tôi gạt nước mắt bỏ xứ ra đi và sinh sống
và làm việc nơi đất khách xa lạ – như đã “thấy trước”!
Nay thấy khung cảnh khá quen thuộc tại khu
nghĩa trang mới đến lần đầu, tôi thót ruột nghĩ tới điềm chiêm bao: Phải chăng nơi đây sẽ là “chỗ ở” của tôi sau
này? Nếu thế, chắc hẳn tôi sẽ chết trong
một chuyến về Việt nam nào đó và được chôn tại đây – sao vậy được? Đang nơm nớp lo sợ, tôi nghe Quỳnh Châu lên tiếng
hỏi tài xế,
“Chú
tài ơi, Mũi Né là chỗ du lịch mà sao nghĩa trang lớn quá vậy nè?”
“Nhiều
‘Việt kiều’ cũng thắc mắc như cô,” anh cười nửa miệng trả lời, “Sau năm 1975,
do sự tranh chấp và phân chia quyền hành và quyền lợi giữa các ‘quan chức’ cao cấp
ngoài Hà nội, bản đồ hành chánh của thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận
thay đổi liên tục như sáng nắng chiều mưa.
Để con nói cho cô chú nghe.”
Ban đầu, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, và Bình Tuy được
gộp lại thành tỉnh Thuận Hải với tỉnh lỵ là Phan Rang, và năm sau tỉnh lỵ lại chuyển
qua Phan Thiết. Đầu thập niên 1990, Thuận
Hải lại tách ra thành hai tỉnh riêng rẽ là Bình Thuận và Ninh Thuận, trong đó Bình Thuận mới bao gồm cả Bình Tuy cũ. Rồi Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận, được
“nâng cấp” thành “thành phố” Phan Thiết.
Bản đồ các tỉnh thay đổi xoành xoạch theo nhu cầu và
tham tâm của các sếp lớn ở trung ương, và đàn em họ ở cấp vùng, tỉnh,
hay huyện tận tình tranh đấu lấn đất giành dân. Vì đất và dân là đám “dân Ngụy” là tiền là
vàng là của cải để chúng đe dọa, lợi dụng, tham nhũng, cướp đoạt, và vơ vét. Bản đồ hành
chánh của Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi như chong
chóng: Hết xã hay phường này chuyển sang
huyện khác, đến xã hay phường mới được thành lập từ các phần của huyện
khác. Thí dụ, xã Hàm Tiến và thị trấn
Mũi Né thuộc huyện Hàm Thuận cũ chuyển về trực thuộc Phan Thiết; đồng thời thị trấn Mũi Né chuyển thành
phường Mũi Né. Mũi Né với những rì-dọọc
trở thành kho tiền bạc vô tận cho ‘quan chức’ moi tiền hối lộ.
Tôi bắt đầu hiểu chuyện, nhưng vẫn còn
thắc mắc,
“Tại
sao phân chia đất về mặt hành chánh lại làm cho nghĩa trang này rộng lớn?”
“Chú
ơi, vụ chia dân chia đất – nhà ở, buôn bán, hay trồng trọt – rồi cũng tới lượt các
nghĩa địa nhỏ của mấy bang nhóm trong khu vực Phan Thiết. Đất thì ở đó, nhưng người chết không thể thò
tiền ra nên nhà nước bắt thân nhân cải táng và sau đó ra lệnh tất cả nghĩa địa phải
dời ra đây. Đất nghĩa địa cũ được chia chác
theo cách chuyển đổi phường xã như trước.”
Anh tài xế đưa tay chỉ chung quanh,
“Nghĩa
địa bây giờ là đất chôn của nhiều bang hội.
Chú thấy cái nhà ngay cổng có bảng ghi tông chi người quá cố không? Đó là nghĩa địa bang Triều Châu. Còn ở cuối nghĩa địa, mộ có gắn thánh giá lớn
màu trắng là của dân chài lưới Công giáo hồi xưa di cư từ Quảng Bình vào.”
“Eureka
[Tôi hiểu rồi]!” tôi buột miệng la lên vì giải tỏa được nỗi lo lắng trong lòng,
trong khi anh ngơ ngác không hiểu tôi nói gì.
Ba mươi bảy năm trước, tôi đến Phan Thiết lần đầu khi
theo quan tài Đắc về đây. Đắc học cùng lớp
kỹ sư điện với tôi. Cuối tuần sau lễ
Giáng sinh năm chúng tôi học đệ tam niên, Đắc đi Vũng Tàu chơi với hai người bạn
học khác. Xe đò lật, bốn bánh chổng lên
trời. Trên xe không ai bị thương tích,
ngoại trừ Đắc. Nó bị cái que nhỏ như cây đinh trên thành ghế đâm
vào tử huyệt
sau gáy và ra đi không kịp kêu một tiếng.
Gia đình Đắc là người Việt gốc Triều Châu nên chôn nó ở nghĩa trang Triều
Châu.
Bốn năm sau đó, tôi lại ra Phan Thiết đi đám tang của
Quan, em cùng cha khác mẹ của tôi. Ngày
tôi chưa đầy ba tuổi, cha trai gái với mẹ em là dì Lang ở Đồng Hới, tỉnh
lỵ của Quảng Bình, và em ra đời. Rồi dì
bồng em theo dân đánh cá làng Tam Tòa thuộc Đồng Hới di cư vào Phan Thiết lập
nghiệp và lập gia đình mới. Khi em được
15 tuổi, mẹ và dì liên lạc với nhau để mỗi mùa hè cho em về sống với gia đình
tôi một tháng “cho anh em hắn biết nhau,” cho đến khi em gia nhập Hải
quân. Mang lon trung sĩ không tới nửa
năm, em tử trận và được chôn ở nghĩa trang làng
Tam Tòa.
Như thế, cảnh nghĩa trang “thấy” trong giấc mơ là hình
ảnh tôi đã thực sự trông thấy ngoài đời.
Mẹ hay nói thằng Bé (tên ở nhà của tôi thời còn bé) là đứa nhớ dai, và cũng vì nhớ dai mà hôm nay
xuýt nữa đâm
ra lo ngay ngáy sẽ vùi
thân nơi đất lạ. Hú hồn!
* * *
Đi dọc theo bờ biển tới Phan Rí Cửa, chúng tôi vào Quốc
lộ 1 và chạy về hướng bắc. Ngày xưa, tôi
đi lại nhiều lần bằng xe đò trên con đường từ Phan Rang ra Nha Trang và Tuy Hòa. Những cánh đồng hai bên đường trông vẫn như
xưa, nhưng dân làm ruộng thấy nghèo hơn.
Người ta còn dùng gàu dai để tát nước vào ruộng; đó là loại gàu có bốn sợi
dây dài cho hai người đứng hai bên bờ ruộng tát nước. Và lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cảnh
“trâu người” cày ruộng như ở miền Bắc mà tôi đã đọc trong sách: Người đàn bà mang “ách” đi trước cong lưng
kéo, và người đàn ông đi sau ra sức đẩy cày.
Một cảnh tượng khiến tôi bật cười chua chát: Ba mươi năm tiến bộ của xã hội chủ nghĩa!
Xe chạy ngang qua Tuy Hòa, nơi cha từng giữ
chức vụ cầm đầu tỉnh Phú Yên, tôi biểu tài xế lái xe vào thị xã, chạy một vòng
trên đường Trần Hưng Đạo xuống bãi biển, và đi qua khu dinh thự có ngôi nhà gia
đình tôi ở gần sáu năm. Khi đi qua núi
Chóp Chài nằm sát Quốc lộ 1 và cách Tuy Hòa khoảng bốn cây số, tôi thầm nói lời
chia tay với thành phố ghi nhiều kỷ niệm buồn vui của thời trẻ tuổi,
Ngọn Chóp Chài đã cao lắm bấy,
Trông hủy trông hoài
không thấy người thương.
Trời chập choạng tối khi chúng tôi tới
Quảng Ngãi để nghỉ đêm và để hôm sau viếng thăm khu di tích Mỹ Sơn của người
Chàm. Thành phố tiêu điều vắng vẻ,
không có một chút sinh khí. Tôi không
nhớ điều gì đáng kể về Quảng Ngãi ngoài câu vè học được ngày ở Huế,
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay lo
Bình Định hay co
Thừa Thiên lủm hết.
“Lủm” là thảy vào miệng ăn gọn gàng, và “lủm hết”
nghĩa rộng là thừa cơ vơ vét để thủ lợi. Sau khi lấy phòng khách sạn, chúng tôi chạy xe
quanh phố tìm chỗ ăn tối, nhưng hàng quán đóng cửa. Cuối cùng tìm thấy một bà bán cháo rong đang
gánh hàng về nhà, vợ chồng tôi và tài xế ngồi bên lề đường húp cháo vét nồi, mong
là không phải phần cháo bà để dành cho con ở nhà.
Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp đường
kính khoảng hai cây số thuộc làng Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng 70 cây số
về phía nam, và cách Trà Kiệu là kinh đô cổ của Chiêm thành 20 cây số về phía
tây. Mỹ Sơn từng là nơi cúng tế của các
triều vua Chiêm thành và hiện có 32 tháp Chàm lớn nhỏ với kiến trúc và hình thể
tương tự như nhau. Khu di tích được coi
là một đền đài Ấn độ giáo đáng kể; năm 1999 được cơ quan Giáo dục, Khoa học, và
Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới và tài trợ
để bảo tồn; và được nhà nước ra sức tung hô để mời gọi du khách ngoại quốc.
Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Những tượng Chàm lở lói rỉ
rên than.
Điêu Tàn, tác
phẩm đầu tay ra đời lúc Chế Lan Viên mới 17 tuổi, là cảm xúc mạnh mẽ chót vót của
nhà thơ về Chiêm thành. Ông xót thương cho
sự điêu tàn của quốc gia này đến nỗi lấy họ “Chế” của người Chàm làm họ của bút
hiệu, trong khi tên thực là Phan Ngọc Hoan.
Trong suốt tập thơ, ông hóa thân vào linh hồn dân Chàm làm những kẻ mất
nước đau đớn vọng về cố quốc. Chiêm
thành đã bị tiêu diệt hơn năm thế kỷ; nay còn không tới 150 ngàn người Chàm sống
ở Ninh Thuận, Bình Thuận, và Phú Yên.
Trông người lại ngẫm đến ta, tôi và hơn ba triệu “Việt kiều” theo mệnh nước lưu
vong khắp thế giới trong vòng 30 năm nay.
Giữa những ngôi tháp cổ im lìm, nỗi hờn vong quốc của người Chàm và nỗi
hờn vong quốc của kẻ lưu vong hòa vào nhau như tiếng thở dài của thời gian. Hai bên đều khắc khoải trong lòng một đất nước
đã mất. Khó có thể nói, ai hờn hơn ai.
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 26 tháng Mười Một, 2025
Truyện ngắn mới:
"Ai Hờn Hơn Ai" (Tháng Mười Một 2025) -- Nguyễn Ngọc Hoa
Mời đọc truyện ngắn thứ hai mươi bốn và cũng là truyện ngắn cuối cùng trong
loạt truyện "Bước
Lưu Ly," hay Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa XII.
Xin đọc bản text
dưới đây hay bản .pdf đính kèm.
Để đọc các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa đã phổ biến trước đây, mời quý thân hữu vào trang "Truyện Ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa" ở trong Trang nhà "Thân hữu Điện lực":
Xin chúc quý thân hữu
và quý quyến một cuối tuần vui vẻ và thân tâm thường an lạc.
PS -- Lần tới, chúng tôi sẽ mời quý thân hữu thưởng lãm truyện ngắn đầu tiên trong loạt truyện mới, Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa XIII
24. Ai Hờn Hơn Ai
Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày thứ hai của chuyến đi miền Trung bằng xe thuê có tài xế, chúng tôi rời Phan Thiết bằng con đường dọc theo bờ biển ra Mũi Né, một địa điểm nổi tiếng tôi chưa từng ghé tới mặc dù đã viếng Phan Thiết gần chục lần. Lần này, tôi hy vọng sẽ có dịp chiêm ngưỡng từ xa vài điểm đặc sắc của vùng này. Thí dụ như di tích lịch sử lầu Ông Hoàng, một biệt thự nằm trên đồi do Công tước De Montpensier cháu nội vua Louis-Philippe Đệ nhất của Pháp xây lên vào đầu thế kỷ thứ 20. Ngoài ra, bãi Rạng yên bình là bãi biển lý tưởng để ngắm nhìn; hòn Ghềnh, còn gọi là hòn Lao, là một đảo nhỏ gần bờ với cảnh thiên nhiên hoang sơ và nước biển trong xanh; và những đồi cát thơ mộng có hình dáng đặc biệt thay đổi theo giờ, ngày, và tháng.
Chẳng bao lâu, tôi khám phá ra bãi biển và cảnh đẹp ven đường đã bị che khuất bởi những rì-dọọc (“resort” hay “khu nghỉ dưỡng” là khách sạn trang bị thêm phương tiện giải trí cho khách tiêu khiển) hai bên đường. Anh tài xế, một thanh niên trạc 31, 32 tuổi, nhắc nhở một thực tế khó chịu,
“Cô chú là ‘Việt kiều’ muốn coi cảnh đẹp Mũi Né phải vô ở trong mấy cái rì-dọọc và mua vé đi tua [tour].”
Nay thấy khung cảnh khá quen thuộc tại khu nghĩa trang mới đến lần đầu, tôi thót ruột nghĩ tới điềm chiêm bao: Phải chăng nơi đây sẽ là “chỗ ở” của tôi sau này? Nếu thế, chắc hẳn tôi sẽ chết trong một chuyến về Việt nam nào đó và được chôn tại đây – sao vậy được? Đang nơm nớp lo sợ, tôi nghe Quỳnh Châu lên tiếng hỏi tài xế,
“Chú tài ơi, Mũi Né là chỗ du lịch mà sao nghĩa trang lớn quá vậy nè?”
“Nhiều ‘Việt kiều’ cũng thắc mắc như cô,” anh cười nửa miệng trả lời, “Sau năm 1975, do sự tranh chấp và phân chia quyền hành và quyền lợi giữa các ‘quan chức’ cao cấp ngoài Hà nội, bản đồ hành chánh của thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi liên tục như sáng nắng chiều mưa. Để con nói cho cô chú nghe.”
Ban đầu, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, và Bình Tuy được gộp lại thành tỉnh Thuận Hải với tỉnh lỵ là Phan Rang, và năm sau tỉnh lỵ lại chuyển qua Phan Thiết. Đầu thập niên 1990, Thuận Hải lại tách ra thành hai tỉnh riêng rẽ là Bình Thuận và Ninh Thuận, trong đó Bình Thuận mới bao gồm cả Bình Tuy cũ. Rồi Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận, được “nâng cấp” thành “thành phố” Phan Thiết.
Tôi bắt đầu hiểu chuyện, nhưng vẫn còn thắc mắc,
“Tại sao phân chia đất về mặt hành chánh lại làm cho nghĩa trang này rộng lớn?”
“Chú ơi, vụ chia dân chia đất – nhà ở, buôn bán, hay trồng trọt – rồi cũng tới lượt các nghĩa địa nhỏ của mấy bang nhóm trong khu vực Phan Thiết. Đất thì ở đó, nhưng người chết không thể thò tiền ra nên nhà nước bắt thân nhân cải táng và sau đó ra lệnh tất cả nghĩa địa phải dời ra đây. Đất nghĩa địa cũ được chia chác theo cách chuyển đổi phường xã như trước.”
Anh tài xế đưa tay chỉ chung quanh,
“Nghĩa địa bây giờ là đất chôn của nhiều bang hội. Chú thấy cái nhà ngay cổng có bảng ghi tông chi người quá cố không? Đó là nghĩa địa bang Triều Châu. Còn ở cuối nghĩa địa, mộ có gắn thánh giá lớn màu trắng là của dân chài lưới Công giáo hồi xưa di cư từ Quảng Bình vào.”
“Eureka [Tôi hiểu rồi]!” tôi buột miệng la lên vì giải tỏa được nỗi lo lắng trong lòng, trong khi anh tài xế ngơ ngác không hiểu tôi nói gì.
Ba mươi bảy năm trước, tôi đến Phan Thiết lần đầu khi theo quan tài Đắc về đây. Đắc học cùng lớp kỹ sư điện với tôi. Cuối tuần sau lễ Giáng sinh năm chúng tôi học đệ tam niên, Đắc đi Vũng Tàu chơi với hai người bạn học khác. Xe đò lật, bốn bánh chổng lên trời. Trên xe không ai bị thương tích, ngoại trừ Đắc. Nó bị cái que nhỏ như cây đinh trên thành ghế đâm vào tử huyệt sau gáy và ra đi không kịp kêu một tiếng. Gia đình Đắc là người Việt gốc Triều Châu nên chôn nó ở nghĩa trang Triều Châu.
Bốn năm sau đó, tôi lại ra Phan Thiết đi đám tang của Quan, em cùng cha khác mẹ của tôi. Ngày tôi chưa đầy ba tuổi, cha trai gái với mẹ em là dì Lang ở Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình, và em ra đời. Rồi dì bồng em theo dân đánh cá làng Tam Tòa thuộc Đồng Hới di cư vào Phan Thiết lập nghiệp và lập gia đình mới. Khi em được 15 tuổi, mẹ và dì liên lạc với nhau để mỗi mùa hè cho em về sống với gia đình tôi một tháng “cho anh em hắn biết nhau,” cho đến khi em gia nhập Hải quân. Mang lon trung sĩ không tới nửa năm, em tử trận và được chôn ở nghĩa trang làng Tam Tòa.
Như thế, cảnh nghĩa trang “thấy” trong giấc mơ là hình ảnh tôi đã thực sự trông thấy ngoài đời. Mẹ hay nói thằng Bé (tên ở nhà của tôi thời còn bé) là đứa nhớ dai, và cũng vì nhớ dai mà hôm nay xuýt nữa đâm ra lo ngay ngáy sẽ vùi thân nơi đất lạ. Hú hồn!
* * *
Đi dọc theo bờ biển tới Phan Rí Cửa, chúng tôi vào Quốc lộ 1 và chạy về hướng bắc. Ngày xưa, tôi đi lại nhiều lần bằng xe đò trên con đường từ Phan Rang ra Nha Trang và Tuy Hòa. Những cánh đồng hai bên đường trông vẫn như xưa, nhưng dân làm ruộng thấy nghèo hơn. Người ta còn dùng gàu dai để tát nước vào ruộng; đó là loại gàu có bốn sợi dây dài cho hai người đứng hai bên bờ ruộng tát nước. Và lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cảnh “trâu người” cày ruộng như ở miền Bắc mà tôi đã đọc trong sách: Người đàn bà mang “ách” đi trước cong lưng kéo, và người đàn ông đi sau ra sức đẩy cày. Một cảnh tượng khiến tôi bật cười chua chát: Ba mươi năm tiến bộ của xã hội chủ nghĩa!
Ngọn Chóp Chài đã cao lắm bấy,
Trời chập choạng tối khi chúng tôi tới Quảng Ngãi để nghỉ đêm và để hôm sau viếng thăm khu di tích Mỹ Sơn của người Chàm. Thành phố tiêu điều vắng vẻ, không có một chút sinh khí. Tôi không nhớ điều gì đáng kể về Quảng Ngãi ngoài câu vè học được ngày ở Huế,
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay lo
Bình Định hay co
Thừa Thiên lủm hết.
“Lủm” là thảy vào miệng ăn gọn gàng, và “lủm hết” nghĩa rộng là thừa cơ vơ vét để thủ lợi. Sau khi lấy phòng khách sạn, chúng tôi chạy xe quanh phố tìm chỗ ăn tối, nhưng hàng quán đóng cửa. Cuối cùng tìm thấy một bà bán cháo rong đang gánh hàng về nhà, vợ chồng tôi và tài xế ngồi bên lề đường húp cháo vét nồi, mong là không phải phần cháo bà để dành cho con ở nhà.
Tôi đã từng viếng tháp Chàm ở Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, và Phan Rang nên không mấy ngạc nhiên hay hào hứng về những kiến trúc cổ tại Mỹ Sơn. Càng đi sâu vào khu di tích này, tôi càng cảm thấy một nỗi buồn mênh mang ngấm dần vào hồn. Như để giải thích tâm trạng của kẻ xa xứ vừa trở về, bài thơ “Trên Đường Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế Lan Viên (1920 - 1989) hiện ra trong trí,
Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian
Những sông vắng lê mình trong bóng tối
Nguyễn Ngọc Hoa
Ngày 26 tháng Mười Một, 2025
Download all
attachments as a zip file
24. Ai Hon Hon Ai - Nguyen Ngoc Hoa - 26 Nov 2025.pdf
223.4 Kb




