728x90 AdSpace

Smiley face
  • Latest News

    SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 TRANG TRUYỆN NGẮN NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA GIẢ NGU TÌM BỌ-LÀM CHUYỆN TÀO LAO-3 THẰNG BẠN ĐÀ LẠT

     TRANG TRUYỆN NGẮN NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA GIẢ NGU TÌM BỌ-LÀM CHUYỆN TÀO LAO-3 THẰNG BẠN ĐÀ LẠT

    ********

    Giả Ngu Tìm Bọ

    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

     Lễ Lao động, ngày thứ Hai đầu tiên của tháng Chín, được gọi là "ngày kết thúc không chính thức của mùa hè"; đó là lúc các sinh hoạt mùa hè chấm dứt.  Ở Công ty Tiện ích Montana-Dakota (MDU), cũng như các hãng xưởng khác, nhiều nhân viên đưa gia đình đi nghỉ hè trong hai tuần trước cuối tuần dài lễ Lao động, vì sau đó học trò đi học lại và từ đây cho đến cuối năm khó tìm được thời gian cả gia đình thong thả để cùng đi chơi xa.  Đó cũng là lúc các môn thể thao mùa thu bắt đầu.

    Trong sở, anh bạn Charlie cầm tập giấy đi quanh “tuyển mộ” cầu thủ lập đội bóng chuyền; MDU sẽ bảo trợ đội bóng, nghĩa là trả các món lệ phí và tiền mua áo may-ô cầu thủ.  Đội bóng chơi vào tối thứ Tư trong 14 tuần lễ ở sân vận động trong nhà của thành phố.  Sự khuyến dụ của Charlie khiến tôi xiêu lòng xăm mình ghi danh vào đội, mặc dù trước đây chưa từng chơi môn thể thao này.  Tối đầu tiên là buổi tập thử, huấn luyện viên kiêm trọng tài chỉ dẫn luật chơi và kỹ thuật giao banh, đỡ banh, nâng banh, đập banh, v.v.  Mười hai tuần lễ kế tiếp là các buổi đấu thử giữa các đội cùng một league (một hạng); đội MDU xếp vào hạng C là hạng thấp nhất.  Hai ngày cuối tuần của tuần lễ cuối thì đấu tranh giải giành cúp vô địch có khắc tên cầu thủ toàn đội. 

    Đội MDU thường đấu thua, người đóng góp nhiều nhất vào cuộc thất bại là tôi.  Mặc dù các bạn đồng đội có tinh thần cạnh tranh muốn thắng, không ai trách cứ hay than phiền khi tôi đỡ banh trượt hay đánh banh văng ra ngoài lằn vạch trắng quanh sân.  Ngược lại, khi tôi đánh một đường banh tạm được, họ la lên khen, “Good job!” (Đánh giỏi!).  Khi đội nhà đánh thắng một đường banh, cả bọn xúm lại đưa tay lên cao đánh vào nhau để tự tán dương.

    Anh bạn Dennis cũng chơi trong đội bóng chuyền MDU.  Nếu xếp hạng, tôi đánh dở nhất thì anh đứng thứ nhì.  Trong lúc tôi thấp và tay ngắn thường hứng hay đỡ banh hụt thì anh hay bị trọng tài bắt lỗi vì “bưng và ném,” nghĩa là thay vì hứng hay đỡ, anh xòe cả hai bàn tay đón bắt trước khi thảy banh sang phía đối phương.  Óc hoạt kê đặc biệt của anh lại được dịp làm việc, anh bào chữa, “Tôi giữ banh trên tay hơi lâu vì tôi là kỹ sư chính hiệu,” và đưa ra câu chuyện khôi hài,

    Một nhà toán học, một nhà vật lý, và một kỹ sư được giao nhiệm vụ tìm thể tích một quả bóng.  Nhà toán học lấy quả bóng đo đường kính rồi tính thể tích.  Nhà vật lý nhúng quả bóng vào nước và đo lượng nước bị choán chỗ.  Anh kỹ sư cầm trái bóng quay qua trở lại rất lâu.  Để tìm số kiểu hàng!

    Số kiểu hàng (kiểu xe, kiểu máy, v.v.) là số hay ký hiệu đặc thù của một sản phẩm mà nhà sản xuất đặt ra để phân biệt với những sản phẩm khác.  Ta có thể dùng số kiểu hàng để lục tìm tính chất của sản phẩm trong mục lục hàng hóa.  Sau khi đánh banh, cả hai đội – đội nhà MDU và đội vừa giao đấu (luân phiên hàng tuần) – kéo nhau sang ba (bar) phía bên kia đường uống bia, go Dutch (chơi theo lối Hòa Lan) phần ai nấy trả.  Khác với người Việt (là tôi) khi uống bia thì uống lấy uống để, uống cho nhiều, và nốc một hơi cho mau say, người Mỹ (là bạn tôi) gọi bia uống thong thả, ngồi ở bàn mình hay đi quanh gặp người quen nói chuyện rỉ rả, và cả buổi tối chỉ uống một hay hai lon bia.  Họ nói chuyện nhỏ nhẹ, không rượu vào lời ra la lối om sòm.  Không ai ép bạn mình uống theo kiểu “rượu bất khả ép, ép bất khả từ.”  Khi một người cần đi về, anh đứng dậy bye-bye; không ai nài nỉ bắt nán lại.

    Tôi kể cho các bạn nghe cuộc di tản đổi đời ra khỏi Sài gòn và nói lên tội ác của Việt Cộng và cuộc sống khốn khổ thê lương của đồng bào ở bên nhà.  Dennis hãnh diện chỉ tay vào người tôi và đùa bỡn như thường lệ,

                Vi-Xi (VC) không hề biết họ đã mất đi một kho tàng vô giá.  Ba Hoa ra đi, tổng số IQ của các đại học ở Sài gòn giảm xuống còn 50 phần trăm.”

    IQ (intelligence quotient) là chỉ số thông minh của một người đo được bằng cách thử nghiệm.  IQ từ 85 đến 115 là mức thông minh trung bình, 130 trở lên là rất thông minh, và trên 145 thuộc hạng thiên tài.  Dennis đang hướng dẫn tôi thảo chương FORTRAN, và tôi được ông sếp để cho tự do làm dự án mình thích nên quyết tâm vừa làm việc vừa học ngành khoa học điện toán tới nơi tới chốn.  Dennis có bằng cao học về ngành học mới mẻ này; anh còn giữ sách giáo khoa và cả sách bài giải dành cho giảng viên vì ngày học cao học anh làm phụ giảng cho giáo sư.

    Tôi mượn sách của Dennis, ra công học hỏi, và nhờ anh giảng giải khi có điều gì không hiểu rõ.  Nếu cần sách điện toán áp dụng mà anh không có, tôi xuất quỹ MDU đặt mua, và sách là tài sản của công ty, trên nguyên tắc nhân viên ai cũng có thể lấy dùng.  Cần sách nghiên cứu thì tôi ra thư viện thành phố hay lên thư viện trường đại học cộng đồng hỏi mượn.  Hai thư viện này nằm trong Hệ thống Liên-Thư viện nên nếu không có sách, họ mượn thư viện khác trong vùng và cho phép tôi giữ 30 ngày và có thể gia hạn.  Khi mượn được cuốn sách hay, ngoài giờ làm việc tôi vào sở photocopy và đóng lại thành tập để lưu giữ.  Xem ra MDU cung cấp đầy đủ phương tiện cho tôi học hỏi, không học thật . . . phí của đời.

    Khi nói chuyện với nhau, tôi và Dennis hay dùng thuật ngữ điện toán và danh từ kỹ thuật đặc biệt ít người hiểu.  Giờ nghỉ giải lao hai đứa xuống câu lạc bộ cùng với nhau.  Một hôm, một anh kỹ sư cơ khí thuộc nha Sản xuất xuống trễ, các bàn kia hết chỗ nên đến ngồi chung bàn với chúng tôi.  Mười phút sau, anh ta cầm ly cà-phê đứng dậy,

                “Nghe các anh nói thứ tiếng gì quái dị, tôi trở lại bàn giấy ngồi uống cà-phê một mình dễ chịu hơn.”

    Đến mùa xuân 1977, tôi nghĩ mình đã hấp thu hết kiến thức điện toán của Dennis và có thể trội hơn vì tôi giỏi toán hơn, có căn bản khoa học vững chắc hơn, và do tính cầu toàn, chịu khó học hỏi tường tận hơn anh.  Lúc này kỹ thuật thảo chương của tôi đã vững vàng và được Dennis và ông sếp tin tưởng và giao phó nhiệm vụ nghiên cứu và viết các chương trình FORTRAN mới cho nha Điều hành Hệ thống Điện.  Công tác bao gồm việc thiết lập phương pháp khảo sát, thu thập dữ kiện chạy máy, viết cẩm nang cho người sử dụng, và phổ biến đến các nhân viên kỹ thuật trong công ty.

    Mùa thu năm ấy, công ty mua chiếc máy điện toán Prime 400 dành riêng cho Tổng nha Kỹ thuật Điện và đặt dưới quyền điều hành của Dennis và tôi.  Prime là một loại máy điện toán thu nhỏ có khả năng tính toán cao và cho phép nhiều người sử dụng cùng một lúc.  Người sử dụng điều khiển trực tiếp máy Prime bằng cách đánh mệnh lệnh vào bàn chữ của trạm điện toán (computer terminal).  Trạm này là một dụng cụ điện tử dùng ống tia âm cực (cathode ray tube) chiếu lên màn hình mệnh lệnh của người sử dụng và nối liền với máy Prime bằng dây cáp chạy ngầm trên trần hay dưới sàn nhà. 

                     Hệ thống Prime hoạt động được phần lớn là nhờ sự phát minh ra những chương trình điện toán gọi là “text editor.”  Chương trình này cho phép người sử dụng tạo ra và sửa đổi các văn bản chứa ký tự và mệnh lệnh điện toán.  Mỗi hàng trong văn bản tương ứng với một thẻ điện toán trước đây dùng cho những máy điện toán lớn như hệ thống Honeywell của MDU.  Text editor khiến cho thẻ điện toán, máy xuyên phiếu, và xuyên phiếu viên trở thành chuyện quá khứ và đang chìm vào quên lảng.

    Bộ phận dĩa dùng để lưu trữ dữ kiện của máy Prime chiếm nguyên một chiếc tủ thấp nhưng chỉ có khả năng chứa 80 MB (megabyte, tức là một triệu byte).  Một flash drive USB bằng ngón tay cái hiện nay có thể chứa 32, 64, hay 128 GB (gigabyte, tức là một tỉ byte), tức là 400, 800, hay 1,600 lần bộ phận dĩa tân kỳ năm 1977.

    Được tùy nghi sử dụng máy Prime, tôi không mơ ước gì hơn.  Tôi có quyền chạy máy bất cứ lúc nào, áp dụng vào dự án tùy ý chọn làm, và học hỏi những điều mình thích.  Nhớ nghề dạy học cũ, mỗi chiều thứ Năm tôi mở lớp dạy các bạn kỹ sư thảo chương FORTRAN và luyện thi kỹ sư chuyên nghiệp (Professional Engineer) để đăng bộ hành nghề ở tiểu bang.  Tôi say mê làm việc và học hỏi bất kể giờ giấc.  Tôi mà vào sở ban đêm hay cuối tuần, dù chỉ định bụng ghé một lát rồi về nhà, nhưng lúc nào cũng mải mê làm việc quên giờ về, Quỳnh Châu phải điện thoại vào gọi về đi ngủ hay ăn cơm.  Đôi khi nàng nhắc khéo,

                “Chông mê làm việc quá, cu Mạc quên mặt ba rán chịu đó.”

    Dần dần tôi nổi tiếng về khả năng kỹ thuật và thảo chương trong Tổ hợp Điện lực Vùng Điện lực Trung-Lục địa gọi tắt là MAPP mà MDU là hội viên.  Tổ hợp này gồm cơ quan trong bảy tiểu bang Hoa kỳ và hai tỉnh Gia Nã Đại hợp thành với mục đích giúp hội viên mua bán điện với nhau và giúp đỡ lẫn nhau.  Các công ty hội viên đều có máy Prime và chia xẻ chương trình FORTRAN và dữ kiện để khảo sát hệ thống điện của toàn tổ hợp.

    Giới kỹ thuật của MAPP kháo nhau tôi có biệt tài debug có một không hai.  Trong ngôn ngữ điện toán, “debug” là tìm chỗ sai trong một chương trình điện toán, do chữ “bug” là con bọ, là chỗ sai.  Thảo chương là một nghệ thuật theo đó thảo chương viên ghép đặt các mệnh lệnh (theo quy tắc định sẵn) theo ý mình để hoàn tất một mục đích tính toán nào đó.  Khi chương trình hoàn thành và chạy không đúng, giai đoạn debug gian nan bắt đầu.  Thảo chương viên vò đầu bứt tai, đọc đi đọc lại từng dòng mệnh lệnh, và thử lui thử tới với các cách sửa đổi khác nhau.  Phần lớn các cuộc debug mất nhiều thì giờ nhưng rồi cũng thành công, và chương trình được sửa đổi thích ứng để sử dụng; nhưng có một số chương trình không bao giờ “chạy.”

    Là người chịu trách nhiệm về sự hoạt động của máy Prime, tôi và Dennis thường phải nghe các bạn đồng sự than phiền khi chương trình “cứng đầu” không chịu chạy cho đúng theo ý họ muốn.  Họ cả quyết “đáng lẽ nó phải làm . . .” (nhưng máy điện toán không làm thế) hay “chuyện . . . không thể xảy ra” (nhưng thực sự chuyện đó đã xảy ra).  Đôi khi họ quy lỗi cho máy điện toán như “ký ức có đốm hư” hay “chương trình biên dịch chạy sai.”  Chương trình biên dịch (compiler) chuyển mệnh lệnh FORTRAN nguồn thành ra chương trình thừa hành mà người sử dụng có thể gọi ra và sai khiến làm việc.

    Khi giúp bạn debug một chương trình, tôi bỏ ngoài tai lời bàn Mao Tôn Cương của tác giả, lần theo từng dòng mệnh lệnh một, kiên nhẫn kiểm chứng lại nhiệm vụ của mỗi mệnh lệnh, và nhất là không “giả sử” nó “phải” làm như thế này, hay như thế kia.  Vì tuy với cùng một mệnh lệnh FORTRAN, máy của International Business Machines (IBM), Honeywell, và Prime có cơ cấu khác nhau có thể đưa tới kết quả khác nhau.

     Đồng thời, tôi quên đi định kiến của tác giả.  Anh bạn thuộc nằm lòng phương pháp tính toán lý thuyết, trong đầu đã nhất định cho rằng máy điện toán chạy sai, và không hình dung ra rằng máy điện toán chỉ là vật vô tri vô giác không hiểu lý luận hợp lý của anh mà chỉ thi hành lệnh anh phán dạy.  Do đó, cách debug của tôi là play dumb (giả ngu) như máy điện toán.  Tưởng tượng mình là người máy, thiên lôi chỉ đâu đánh đó, và để cho mệnh lệnh của chương trình đưa đẩy từng bước một tới chỗ sai.  Cái “bug” tìm thấy thường là một lỗi lầm đơn giản, ai cũng có thể thấy nhưng không ai ngờ đến.

    Mỗi lần debug thành công, tôi về nhà hãnh diện khoe phép thuật “giả ngu tìm bọ” của mình với Quỳnh Châu.  Nàng cười lắc đầu, không đồng ý,

                “Cách debug của anh dùng hai đức tính cần thiết.  Một là kiên nhẫn, bền chí như Thomas Alva Edison.  Hai là tưởng tượng, một khí giới tối quan trọng của nhà khoa học; Albert Einstein nói, ‘Tưởng tượng quan trọng hơn kiến thức.’  Chồng em là một khoa học gia đích thực, quên rồi sao?”

    Được vợ khen, tôi thích chí nhưng ngoài mặt vờ khiêm nhường giễu cợt, “Em dạy quá nhời (lời) làm chồng hỉnh mũi to bành sư đây .”  Và tôi yêu nàng vô cùng.

    Nguyễn Ngọc Hoa

                                                             Ngày 7 tháng Bảy, 2021

    ********************

    Làm Chuyện Tào Lao

    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

     

    Tôi về Sài gòn chưa tròn bốn ngày, và cơ thể chưa thích nghi với môi trường mới.  Năm giờ sáng, tôi dậy sớm đi bộ ngoài đường tập thể dục với Song.  Đi một vòng từ nhà nó ở đường Lý Chiêu Hoàng, tới đường Nguyễn Biểu, và lên cầu Chữ Y rồi quay về.  Trời còn tối đen, và trong ánh đèn nhấp nhoáng của xe cộ đi làm sớm, hai thằng sánh vai nhau vừa đi vừa nói lan man về thuở sinh viên ở trường Cao đẳng Điện học và cười lớn.  Ngày đi học, 40 năm trước, hai thằng đi đâu cũng có nhau, chia xẻ mọi thứ, và không giấu nhau điều gì, kể cả chuyện tình cảm trai gái riêng tư.  Mùa hè nghỉ học, khi nó ghé nhà tôi ở Tuy Hòa, ông tài xế đùa bỡn ví chúng tôi là đôi bạn Lưu Bình - Dương Lễ bằng câu ca dao Quảng Bình khá thô tục,

                Anh em bạn cũ Lưu tồn,

                Củ khoai chia bốn, cái . . . hồn chia hai.

    Dạo ấy, Song hào hiệp, hết lòng vì bạn, và ngang tàng không nể nang ai.  Bạn bè không đứa nào dám đấu khẩu với nó vì nó lý luận sắc bén, nói năng không thèm giữ ý tứ, và có khi dùng lời lẽ sống sượng đến tục tĩu.  Song bỗng nhớ đến Công, bạn học và bạn thân của tôi từ thời Quốc học Huế,

                “Bên đó mày hay gặp thằng Lẹ Tiềng không?”  “Lẹ tiềng” là “lẻ tiền” phát âm theo giọng nặng trịch ở quê Công là vùng Phú Lộc gần núi Túy Vân tỉnh Thừa Thiên.

                “Nó ở Texas, tao ở North Dakota; thằng bắc, thằng nam nên mỗi năm chỉ gặp nhau một, hai lần.  Tụi tao nói chuyện điện thoại thường hơn.”

    Ngày đó, Công được nhận dạy kèm tư gia ăn ở tại nhà cho Bách Hoa, con đầu lòng một gia đình giàu có và có thế lực, sau cuộc kén chọn kỹ lưỡng của mẹ nàng.  Nó vừa có lương dạy kèm vừa được cơm bưng nước rót và cho ở riêng trong căn phòng nhỏ khang trang trên sân thượng có giường nệm, bàn học, tủ sách, và quạt máy.  Nó tằn tiện chi li nên tiền nhà tiếp tế gửi ngoài Huế vào và lương dạy kèm ít khi sứt mẻ.  Tôi và Song vung tiền líu lo vào cà-phê thuốc lá và xi-nê và đến cuối tháng kẹt tiền, mày mò đến mượn nó.  Một hôm đầu tháng vừa lãnh lương dạy kèm, tôi mang 1,000 đồng gồm hai tờ bạc năm trăm mới toanh tới trả nợ.  Cất tiền cẩn thận vào tủ, nó hỏi tôi,

                Mi còn tiền không, cho tau hai chục đồng.”

                “Tao vừa trả mày một ngàn đồng đó, bộ hết tiền rồi hay sao?” tôi ngạc nhiên hỏi lại.

                “Lấy hai chục ra, hắn lẹ tiềng đi,” nó trả lời; từ đó “Lẹ Tiềng” thành chết tên.

    Bách Hoa đâm ra yêu ông thầy dạy kèm, và bà mẹ cũng khuyến khích nàng.  Nàng lãng mạn mộng mơ, hay ghen tuông vô cớ, và thích chỉ huy sai khiến khiến Công điêu đứng khổ sở.  Liên hệ tình cảm với học trò dạy kèm – nồi cơm của mình – là điều đại cấm kỵ đối với tôi và Song nên những lần ngồi uống cà-phê ở quán hủ tiếu đầu đường gần nhà trọ tôi, hai thằng trêu chọc Công không thương tiếc.  Rồi một hôm nó nhận được tin dữ:  Trong lần khám sức khỏe (bắt buộc) hằng năm, bác sĩ thấy vết nám trên bản chụp phổi bằng quang tuyến X, và ra lệnh nghỉ học ba tháng để tĩnh dưỡng, xem như tuyên án cậu sinh viên đệ nhất niên đầy triển vọng phải chịu ở lại lớp.

    Tối hôm đó, ba thằng họp lại tại quán hủ tiếu.  Chúng tôi quyết định không cho gia đình Công ngoài Huế biết nó phải nghỉ học.  Tôi và Song sẽ lấy cua (bài giảng in ronéo) về cho nó học ở nhà và thay nhau giảng bài cho nó để đến cuối lục cá nguyệt, nó vào trường thi như các sinh viên khác.  Xem như vẫn đi học bình thường.  Giúp bạn thì giúp, nhưng “tội lỗi” không thể tha thứ; Song vặn hỏi,

                “Có phải tại mày may tay quá độ mà bị nám phổi không?”  “May tay” là tiếng lóng chỉ hành động tự dùng tay thỏa mãn tình dục của bọn con trai mới lớn.

                “Cũng hơi có . . .” Công ngượng ngập trả lời.

                Mày mà ‘hơi có’ thì ai ‘đêm bảy, ngày ba, ra vào thêm nếm không kể cho?  Coi hai cánh tay của mày, tay phải lớn hơn tay trái.  Còn cãi đường nào?” Song nói như thật.

                “Đàn ông phải dâm dục mới là người thông minh.  Mi coi gương Napoléon đó!”

    Công gắng gượng biện hộ, trong lúc Song làm bộ nghiêm nghị.

                “Hai đứa tao sẽ hết lòng giúp mày.  Với một điều kiện.”

                “Chuyện chi tau cũng chịu,” Công xuống nước.

                “Cấm mày suốt ngày ăn xong rờ l… con Bách Hoa.  Cứ tiếp tục làm vậy là chết sớm thôi con ơi!” Song cố nín cười. 

    Tôi bùi ngùi nói với Song,

                “Mới đó mà đã gần bốn chục năm.  Ra trường, thằng Công cưới con Bách Hoa rồi qua Mỹ học ngành điện toán.  Con vợ cũng qua Mỹ theo.  Nó thành công vượt bực trong việc học hành và nghiên cứu khoa học rồi rút lui sống tu hành ẩn dật, nghiên cứu và thuyết giảng Phật pháp.”

                “Có phải hồi xửa hồi xưa ở ngoài Huế, thằng Lẹ Tiềng mê đạo Phật và dụ mày lên chùa học đạo với ‘sư phụ’ nó?

                “Đúng vậy.  Có lần hai thằng tao xin quy y mà thầy không cho.”

    “Do đó, mày nhân từ và tốt bụng hơn hết trong đám bạn mình.  Khổ nỗi chính vì lòng thương người của mày mà tao phải chạy đôn chạy đáo, hối lộ từ trên xuống dưới để cứu con bạn mày và khỏi bị rắc rối với nhà nước.”

                “Thấy dân mình đói khổ nên tao ngu xuẩn tin rằng dầu sao Việt Cộng cũng còn một chút lương tâm nghĩ tới phúc lợi của dân chúng.  Tao đã lầm to,” tôi xin lỗi Song, trong khi chuyện cũ hiện lên trong tâm khảm như một cuốn phim quay chậm.

    * * *

    Việt Cộng (“VC”) vào, Song được “lưu dung” làm việc tại công ty điện lực.  Cuộc sống khắc nghiệt và khốn khó thúc đẩy vợ chồng nó đưa bốn đứa con, hai trai hai gái, đi vượt biên.  Chuyến đi bại lộ, ghe bị công an biên phòng đuổi theo bắt được, vợ nó và hai bé gái út chết ngộp dưới khoang ghe, và nó bị bắt giam tù.  Được thả sau hơn một năm ngồi tù và về Sài gòn bị Điện lực đuổi, nó làm nghề sửa chữa động cơ điện và máy biến thế tư gia để sinh sống.  Dần dần, nó và vợ sau là Hải Quyên khuếch trương cơ sở thành công ty sản xuất dây điện từ dùng trong dụng cụ điện để cung cấp cho Điện lực và các cơ xưởng kỹ nghệ.

    Song đã trở thành một kỹ nghệ gia có tăm tiếng, giàu có, và giao du rộng.  Bạn học cũ của nó có đứa làm tới “trưởng phòng” (tương đương với phó tổng giám đốc ngày trước) của Điện lực.  Ở Hoa kỳ, ngoài nhiệm vụ giám đốc kế hoạch ở công ty tiện ích, tôi được Tổ hợp Điện lực Trung-Lục địa (gọi tắt là MAPP) đề cử làm đại diện trong Tiểu ban Thẩm định Khả năng Đáng Tin cậy của hệ thống điện Bắc Mỹ (gọi tắt là RAS).  Tiểu ban gồm đại diện mười vùng điện lực Bắc Mỹ trong đó MAPP là một, và đại diện hai chính phủ Hoa kỳ và Gia Nã Đại.  RAS thẩm định mạng lưới liên kết Bắc Mỹ, phúc trình khuyết điểm có thể đưa tới các vụ cúp điện rộng lớn, và đề nghị những biện pháp phòng ngừa.

     Trong các phiên họp hàng tháng của RAS, tôi ngẫu nhiên hợp ý và kết bạn với Douglas, đại diện chính phủ Gia Nã Đại.  Anh là giám đốc nha Năng lượng thuộc bộ Tài nguyên Thiên nhiên Gia Nã Đại và cai quản chương trình viện trợ các dự án điện lực cho những nước kém mở mang như Mozambique, Tanzania, và Zambia ở Phi châu.  Một hôm đi ăn tối cùng với nhóm RAS, anh kể chuyện đứa con trai út cưng tên Peter.  Cậu vừa tốt nghiệp đại học, được trường y khoa thâu nhận, và sẽ tạm nghỉ một năm (gọi là “gap year,” hay “năm kẽ hở”) để du lịch và thu thập kinh nghiệm sống trước khi đi học y khoa.  Cậu dự định viếng thăm Đông nam Á trước tiên, Douglas hỏi tôi,

    “Anh khuyên cháu nên làm gì để sửa soạn cho chuyến đi này?”

    Biết ý Douglas nhờ tôi giúp đỡ khi con anh đến Việt nam, tôi khấp khởi mừng thầm.  Peter có thể là cái tuy-dô (tiếng Pháp “tuyau” là đường dây thế lực) rất lớn để Điện lực bên Việt nam tiếp xúc với Douglas và xin viện trợ của Gia Nã Đại.  Tôi ghét cay ghét đắng bọn VC cầm quyền, nhưng không đành lòng bỏ quá các dự án điện lực, mỗi dự án trị giá từ năm, bảy trăm triệu đến một tỉ đô la, có thể giúp đồng bào bên nhà bớt khổ.  Sau buổi họp RAS đó, tôi viết ngay điện thư cho Song, trình bày cơ hội hiếm có, và mong nó và các bạn làm Điện lực cố gắng thực hiện.  Nó viết trả lời,

    Tao và các bạn mình hoàn toàn đồng ý với mày.  Mày nói với ông Douglas là tụi tao sẽ hết lòng khoản đãi và hướng dẫn Peter đi xem phong cảnh khi cậu ta đến Việt nam.  Tao sẽ cho người đưa cậu đi viếng cảnh Sài gòn, Đà Lạt, và Huế.  Tụi tao sẽ không bỏ lỡ dịp này đâu!

    Douglas cho biết chương trình thăm viếng của Peter:  Tháng Mười, cậu bay từ Ottawa thủ đô Gia Nã Đại sang Thái Lan và Cam Bốt rồi đến Việt nam, và sau đó đi Trung hoa và Nhật Bản.  Tôi và các bạn cũng như cậu sinh viên trẻ không thể ngờ được rằng các sự biến chính trị quốc tế lại gây khó khăn rối rắm cho chúng tôi đến như vậy.

    Đầu tiên, cuối tháng Tư, Hà nội thình lình hành hình bà Trần thị Liên người Gia Nã Đại gốc Việt bị giam giữ về tội buôn bạch phiến, mặc dù chính phủ Gia Nã Đại đã yêu cầu VC xét lại.  Bà Liên một mực kêu oan, nói mình và bà mẹ 74 tuổi bị người ta lừa nhờ mang bạch phiến giùm, nhưng bà không hề hay biết.  Chính phủ Gia Nã Đại phản đối mạnh mẽ và tạm ngưng các chương trình viện trợ kinh tế, quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng, và du khách mang thông hành Gia Nã Đại như Peter bị công an VC làm khó dễ đủ điều ở các phi trường.

     

    Từ Nam Vang, Peter bay sang phi trường Tân Sơn Nhứt nhằm tuần lễ Tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton viếng thăm Việt nam.  Chuyến công du sẽ mở đường cho doanh nhân Hoa kỳ và thế giới vào đầu tư, giúp mở mang kinh tế, và cứu gần 100 triệu dân Việt nam sắp bị chết đói.  Mời được Clinton sang thăm, bọn chóp bu VC sướng muốn chết, nhưng làm bộ lạnh nhạt với “đế quốc Mỹ.”  Chúng chỉ chào mừng Clinton bằng một tấm biểu ngữ và chỉ loan báo chuyến công du của ông bằng bản tin trên đài truyền thanh và truyền hình.  Không dè, ở Hà nội cũng như Sài gòn, hàng vạn người dân ùa ra đường chen nhau chào đón và bắt tay vị tổng thống trẻ tuổi đẹp trai và bình dị.  Hà nội đâm ra hoảng hốt, sợ dân chúng thừa dịp biểu tình đòi nhân quyền và chống chính phủ, và ra lệnh cho công an ráo riết canh phòng bọn “phản động.”

                    Mặt khác, lựa lúc Clinton sang Việt nam, người anh hùng Lê Táng ra tay hành động.  Anh sinh năm 1946 tại Huế và vốn là phi công quân đội Việt nam Cộng hòa.  Năm 1975 máy bay anh bị bắn rơi, và anh bị bắt và giam tù “cải tạo.”  Năm năm sau, anh vượt ngục rồi vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan qua ngả Cam Bốt, xin tỵ nạn chính trị tại Singapore, và đến Hoa kỳ tỵ nạn.  Anh đã vài lần tổ chức cướp máy bay để rải truyền đơn chống Cộng ở một số quốc gia Cộng sản.  Lần này, anh sang Thái Lan giả vờ học lái máy bay, lấy phi cơ bay về Sài gòn, và thả 50 ngàn tờ truyền đơn ký tên “Liên minh Toàn cầu Nổi Dậy Chống Cộng” hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính quyền VC.  Việc này khiến cho toàn bộ hệ thống công an báo động, túa ra khắp nơi truy lùng “gián điệp và tay sai đế quốc.”

    Không hay biết chiếc bẫy giăng sẵn chờ mình, Peter vô tư đến Sài gòn, vào khách sạn, và như đã hẹn, gọi điện thoại cho Song.  Đang bị công an bố trí canh chừng cẩn mật, bạn tôi nói ngay,

                “Chúng tôi không thể gặp cậu.  Cậu phải cẩn thận và cần khai thực là không hề quen biết chúng tôi.”

                “Tại sao?” Peter chưng hửng.

                “Bạn tôi bên Mỹ sẽ giải thích cho cha cậu biết sau.  Chúc cậu may mắn!”

    Ngay sau đó, công an ập vào “mời” Peter về trụ sở “làm việc.”  Sau hai ngày đêm bị tra hỏi gắt gao, nhưng không có gì để cung khai, Peter bị giải ra phi trường đưa ra Hà nội rồi đẩy sang Trung hoa.  Song phải chạy chọt, nộp khối tiền hối lộ cho bọn công an lớn nhỏ, và trả tiền vé cho các chuyến bay được chỉ định để cậu rời Việt nam an toàn.  

    Nghĩ lại, chỉ một ý định giúp đồng bào mà xuýt gây họa cho bạn bè.  Đã hai thứ tóc trên đầu, tôi còn làm chuyện tào lao!  Sao không nhớ VC là bọn người vô lương tâm?

    Nguyễn Ngọc Hoa

                                                           Ngày 8 tháng Mười, 2025

    ********************

    Ba Thằng Bạn Đà Lạt

    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

     

    Sau một tuần ở Sài gòn, khi nỗi háo hức trở về quê cũ và niềm vui gặp lại bạn bè dịu xuống, tôi ho dữ dội về đêm và ngại ngùng khi phải ra ngoài.  Bụi bặm và khói xe dày đặc đến nỗi chỉ một ngày đi đầu trần ngoài đường, tối về tôi thấy tóc mình dính bết lại như thể được chải bi-dăng-tin (tiếng Pháp “brilliantine”).  Xe cộ, phần lớn là xe gắn máy, mạnh ai nấy chạy, giành đường nhào tới bất chấp luật lệ lưu thông, và nhấn còi tin tin liên tục, không cần biết có ai nghe hay không.  Người ta đội mũ mang khăn che kín mặt trông như quái vật từ hành tinh lạ.  Trong khi đó, các nhà và cửa tiệm mở máy hát hết cỡ từ sáng sớm đến đêm khuya, và âm thanh hỗn độn vang dậy từ ngõ hẻm đến đường phố.  Có lẽ vì vậy dân Sài gòn nói chuyện lớn tiếng như hét vào mặt nhau.

    Ra đường, tôi luôn luôn bị gọi giật lại mời mua một thứ gì đó.  Khi tôi từ chối, “Dạ không, cám ơn,” trẻ em cũng như người lớn đều nặng lời mắng nhiếc, “Đồ ‘Việt kiều’ gì mà . . .”  (Có lẽ có một tấm biển “Việt kiều” vô hình nào đó trên trán hay sau lưng tôi!)  May thay, trong hai tuần lễ còn lại, tôi không còn chịu khổ sở ở “thành phố đã mất tên” này bao nhiêu ngày nữa.  Chúng tôi đã thuê khoán chiếc xe du lịch có tài xế để đi thăm miền Trung và sau đó bay ra Hà nội xem miền Bắc một lần cho biết.

    Trước khi chúng tôi lên đường, vợ chồng Lộc hẹn đi ăn phở ở tiệm phở Tàu Bay trên đường Lý Thái Tổ để chia tay vì hai người cũng sẽ trở về Đà Lạt.  Nếu Tàu Bay là tiệm phở quen thuộc của tôi và Lộc thời đi học, Trâm Anh vợ Lộc cũng không phải là người xa lạ.  Trong chuyến du khảo nhà máy thủy điện Đa Nhim cuối năm đệ tam niên trường kỹ sư, bọn sinh viên Điện chúng tôi có dịp sinh hoạt với sinh viên các ký túc xá của viện Đại học Đà Lạt, và trước khi buổi sinh hoạt bắt đầu, cô cháu họ Nhật Lệ gọi tôi bằng “ông” đưa Trâm Anh tới giới thiệu với tôi trong lúc Lộc đứng kế bên,

    “Trâm Anh học sư phạm ở chung phòng với em.  Hắn quê Tuy Hòa và hay nghe em kể về ôông nên muốn làm quen.”  Tôi nhớ ra Trâm Anh trước học trường trung học Nguyễn Huệ Tuy Hòa và có tên trong danh sách “những cô gái đẹp nhất” của Sang em kế tôi.

                “Hân hạnh được biết Trâm Anh,” tôi lúng túng cười duyên.

                Ôông tau biết danh và hâm mộ mi lắm,” Nhật Lệ tâng bốc bạn.

                “Anh Ba Hoa ở Tuy Hòa ai mà không biết.  Sao lâu nay không thấy anh về chơi?” giọng Phú Yên ríu rít và cất lên cao ở cuối câu của Trâm Anh nghe như chim hót.

    Không dè, Lộc bị tiếng sét ái tình đánh trúng ngay phút đầu tiên gặp mặt Trâm Anh.  Lộc làm quản trò điều khiển chương trình nhưng mắt không rời cô thiếu nữ xinh đẹp dịu dàng như muốn ghi khắc từng dáng điệu cử chỉ của nàng.  Bạn tôi đã tìm thấy đối tượng yêu thương.  Hè năm sau, sau khi chúng tôi tốt nghiệp, tôi trở lại Tuy Hòa làm phụ rể cho đám cưới của hai người, và Nhật Lệ là một trong bốn cô phụ dâu.

    Trâm Anh cảm động mắt chớp chớp mắt khi tôi nhắc cuộc gặp gỡ định mệnh hơn 35 năm trước.  Đêm ấy, trên đỉnh đồi cao vắng lặng, từng cặp nam nữ sinh viên Điện và Đà Lạt xen kẽ nắm tay nhau bước quanh lửa trại bập bừng và hát to bài “Việt nam Quê hương Ngạo nghễ” của Ngô Đức Vinh,

    Ta như nước dâng dâng tràn có bao giờ tàn

    Đường dài ngút ngàn chỉ một trận cười vang vang

    Lê sau bàn chân gông xiềng một thời xa xăm

    Đôi mắt ta rực sáng theo nhịp xích kêu loàng xoàng . . .     

    Tác giả bài hát là bạn thân của Lộc từ ngày học trường trung học Trần Hưng Đạo Đà Lạt; hai đứa đồng hành trong các sinh hoạt hướng đạo, văn nghệ, và về sau là du ca.  Khoảng hai năm trước đêm lửa trại của chúng tôi, chính hai đứa đã góp phần thành lập Du ca Việt nam, một tổ chức thanh niên có mục đích giáo dục thế hệ trẻ bằng cách trình diễn văn nghệ và hoạt động cộng đồng, và Lộc giữ chức vụ chủ tịch lâm thời trước khi phong trào họp đại hội bầu chủ tịch chính thức.

     Vinh sinh năm 1944 tại Sơn Tây là con áp út trong một gia đình sáu anh chị em – ba trai, ba gái, cha làm giáo chức.  Lúc nhỏ Vinh theo chân cha mẹ di chuyển và sống ở nhiều nơi.  Trước Hiệp định Genève 1954 ba tháng, nó và đứa em út theo cha mẹ vào Sài gòn, người anh cả và ba người chị kẹt lại ngoài Bắc.  Rồi cha đổi về Đà Lạt, ở đó nó học trung học rồi lên đại học học khóa đầu tiên của trường Chánh trị Kinh doanh Đà Lạt.

    Vinh có năng khiếu âm nhạc và ham mê sáng tác từ ngày mới lớn; ca khúc đầu tay là bài hát hướng đạo “Gươm Thiêng Hào kiệt.”  Đầu thập niên 1960, nó chuyển hướng sáng tác sang chủ đề “Tuổi Trẻ, Quê hương, và Dân tộc” diễn tả suy tư của một thế hệ sinh ra và lớn lên trong chiến tranh với những bài “trầm ca,” tức là bài hát trầm tư; tiêu biểu là bài “Nỗi Buồn Nhược tiểu.”  Nó cùng một số bạn cựu học sinh Trần Hưng Đạo lập một ban nhạc không tên, không chuyên nghiệp trình diễn tự nguyện với phong cách mới mẻ:  Người tham dự không chỉ nghe hát và vỗ tay tán thưởng mà cùng hát với nhạc sĩ trên sân khấu theo tinh thần “hát hay không bằng hay hát,” “hát với nhau,” và “cùng nhau hát.”

    Tháng Chạp năm 1965, ban nhạc chính thức ra mắt bằng hai buổi trình diễn tại viện Đại học Đà Lạt:  Đêm đầu tại giảng đường Spellman với sự tham gia của Phạm Duy, ông hát những bài “Tâm ca” mới sáng tác.  Đêm sau tại giảng đường Thụ Nhân với xuất hiện của ca sĩ hát dân ca Hương Anh; sau đó cô gia nhập và trở thành giọng nữ duy nhất của ban nhạc.  Rồi ban nhạc lấy tên Trầm Ca; đó là điểm khởi đầu của phong trào du ca.

    Trong thời gian này, tôi theo Lộc lên Đà Lạt chơi mỗi lần nó về thăm nhà, và thường gặp Vinh và thằng bạn thân kia của Lộc là Liễn sinh viên văn khoa hát trong ban Trầm Ca.  Bốn thằng thường ra tiệm Shanghai gần chợ Hòa bình uống trà sữa, thức uống thông dụng của sinh viên địa phương.  Tôi thường phải làm “đầu tàu” trả tiền vì ba chàng nghệ sĩ du ca còn nương tựa cha mẹ, trong khi dù bỏ nhà đi bụi đời nghèo xác xơ, tôi đi dạy tư và có tiền riêng.

    Tốt nghiệp Cử nhân Chánh trị Kinh doanh, Vinh dự thi kỳ thi tuyển tham vụ ngân hàng (để làm giám đốc ngân hàng tại các chi nhánh địa phương) của Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp đặt trụ sở tại bến Bạch Đằng Sài gòn.  Nó đậu cao và được chọn phục vụ tại sở Kế hoạch tại trung ương.  Khi thời hạn hoãn dịch vì lý do học vấn chấm dứt, nó bị gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức, ra trường với cấp bậc chuẩn úy, và được biệt phái về làm việc tại nhiệm sở cũ.

    Việt Cộng (“VC”) vào, Vinh bị đi tù “cải tạo” ba năm.  Ra tù ít lâu, nó dắt vợ con vượt biên đến trại Pulau Bidong ở Mã Lai Á rồi sang Hoa kỳ tỵ nạn, định cư tại khu Little Saigon ở nam California.  Sau khi lần lượt làm giám đốc trị sự, chủ bút, và tổng giám đốc nhật báo Ngàn Việt là tờ báo nổi tiếng nhất của người Việt hải ngoại, nó sáng lập nhật báo Trường Xuân rồi cộng tác với bạn bè lập một công ty truyền thông và làm một số tờ báo khác.

    * * *

    Bốn người chúng tôi vừa ăn vừa chuyện trò rộn ràng, từ chuyện cũ đến chuyện mới.  Nhắc lại người bạn thân thiết ngày xưa, Lộc hỏi tôi,

                “Qua bên Mỹ, mày hay liên lạc với thằng Vinh không?”

                “Nó ở Little Saigon là nơi đô hội của người Việt và được mọi người biết tên biết tiếng.  Tao ở xứ North Dakota hẻo lánh xa xuôi và chẳng ai thèm biết tới.  Hai thằng hai thế giới khác nhau nên ít có cơ hội gặp gỡ,” tôi lắc đầu.

                “Năm kia, vợ chồng nó về Đà Lạt ăn tết, nó nói có lần mày gọi điện thoại hỏi lăng quăng gì đó mà nó không nhớ.”

                “Ờ, đó là lần NASA phóng Viễn vọng kính Không gian Hubble lên không gian,” tôi nhớ ra, “Tạp chí Xxxx Việt ở Toronto [Gia Nã Đại] kêu tao viết một bài về biến cố khoa học trọng đại đó, và tao gọi cho thằng Vinh để hỏi lời một bài hát.”  NASA là Tổng nha Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa kỳ.

    Viễn vọng kính nói chung là dụng cụ dùng để quan sát “sao trên trời” nên để bài báo bớt khô khan, tôi dự định dặm thêm một số câu trong bài hát “Bài Ca Sao.”  Tôi chỉ nhớ lõm bõm lời bài hát nên gọi điện thoại hỏi Vinh vì nghĩ nó là tác giả.  Gọi nó tại nhà đến lần thứ ba mới gặp; buổi tối nó vừa đi nhậu với bạn về, còn say rượu, và nói không nhớ lời vì tác giả là người khác – Phạm Duy.  Tôi gọi Phạm Duy và lần này được ông niềm nở đọc lời cho tôi chép và hát cả bài từ đầu đến cuối cho tôi nghe.  Kết quả là bài viết của tôi mở đầu với bốn câu đầu của bài “Bài Ca Sao,”

    Sao Tua chín cái nằm kề,

    Thương em từ thuở mẹ về với cha.

    Sao Vua sáu cái nằm xa,

    Thương em từ thuở người ra người vào.

    Tôi nhớ đến Liễn và hỏi Lộc,

    “Thằng Liễn vẫn ở Đà Lạt?  Tao nghe nói bây giờ nó có họ mới và thành Mạc Thái Liễn, thay vì Huỳnh Thái Liễn như xưa.”

    “Cha nó họ Mạc người Thanh Hóa và mẹ nó người Hà Tĩnh vào Di Linh tỉnh Lâm Đồng lập nghiệp.  Khi bà mẹ mang thai nó, người cha theo Việt Minh đi kháng chiến biệt tích.  Bà mẹ sinh nó rồi tái giá.  Từ nhỏ đến lớn, nó sống với cha dượng và mấy người em cùng mẹ khác cha, và mang họ Huỳnh của ông.  Mãi đến năm 1975 gặp mặt cha ruột, nó mới đổi họ thành Mạc như ông ta,” Lộc giải thích.

    Ngày gặp Liễn, tôi mơ hồ biết nó sống và học trung học đệ nhất cấp ở Di Linh đến năm 14 tuổi mới lên Đà Lạt học Trần Hưng Đạo và sau đó học triết tại Đại học Văn khoa Đà Lạt.  Dáng người bé nhỏ, nó ăn mặc diêm dúa, và áo quần lúc nào cũng đúng mốt.  Gia đình cha dượng nó giàu có, làm chủ một khách sạn khá lớn ở dốc đường Hai Bà Trưng dẫn lên chợ Hòa bình.

    Tốt nghiệp Cử nhân Giáo khoa Triết, Liễn về Sài gòn học cao học tại Đại học Văn khoa Sài gòn.  Sau hai năm, không hoàn tất tiểu luận cao học, nó bỏ dở và nhờ gia đình vận động, được nhận làm phụ khảo tại Đại học Văn khoa Đà Lạt.  Khoảng một năm sau, thời hạn hoãn dịch vì lý do học vấn chấm dứt, nó bị gọi nhập ngũ vào trường Bộ binh Thủ Đức.  Ngày ra trường, thay vì trình diện đơn vị chờ viện đại học can thiệp với bộ Quốc phòng cho biệt phái về trường dạy lại, nó đào ngũ và nhảy vô bưng theo VC.

    Những năm đầu thời VC, Liễn bị bỏ xó.  Chúng nói những người học triết như nó đã bị nhiễm độc về mặt tư tưởng và cần học hỏi thuần nhuyễn triết học Marx - Lenin mới có thể giao công tác.  Nó để ra gần ba năm đi học “trường Đảng” và được cấp bằng “Đại học Sư phạm Chính trị” để được phép dạy trung học.  Bị gây khó dễ đủ điều khi dạy học, nó xin chuyển sang làm việc cho thành phố Đà Lạt, ra ứng cử hội đồng Nhân dân Thành phố và đắc cử chức phó chủ tịch, và chỉ làm một nhiệm kỳ thì rút lui.

    Cuối thập niên 1980, Liễn và các bạn trong hội Văn nghệ Lâm Đồng chủ trương tạp chí Lang Bian (Lâm Viên).  Tờ báo chỉ ra được ba số, nhưng gây được một tiếng vang lớn.  Trên tờ Lang Bian, nó viết một bức thư nẩy lửa cho ban chấp hành Hội (do nhà nước điều khiển) nêu ra cơ chế bất hợp lý và vi phạm dân chủ trong chính sách của nhà nước.  Một điều tối cấm kỵ!  Giữa thập niên 1990, nó công khai bất đồng chính kiến với nhà nước và là một trong bốn thành viên đầu tiên của nhóm “bất đồng” Thân hữu Đà Lạt.  Ba người kia là Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, và Tiêu Dao Bảo Cự.  Bất đồng quan điểm với nhà nước VC không phải dễ dàng.  Bị gây khó khăn liên tục, theo dõi từng bước đi, và đe dọa tù đày, nhưng Liễn không lùi bước.

    Thời cuộc đổi thay, ba thằng bạn Đà Lạt năm xưa mỗi đứa mang một số phận khác nhau.  Nhưng khi nhớ lại, tôi vẫn thấy ba đứa ôm đàn đứng bên nhau hát trên cái sân khấu nhỏ ở thành phố mù sương năm ấy.  Và rốt cuộc, chính ký ức đó mới là điều còn lại.

    Nguyễn Ngọc Hoa

                                                              Ngày 29 tháng Mười, 2025

    Ai Hờn Hơn Ai

    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

     

    Ngày thứ hai của chuyến đi miền Trung bằng xe thuê có tài xế, chúng tôi rời Phan Thiết bằng con đường dọc theo bờ biển ra Mũi Né, một địa điểm nổi tiếng tôi chưa từng ghé tới mặc dù đã viếng Phan Thiết gần chục lần.  Lần này, tôi hy vọng sẽ có dịp chiêm ngưỡng từ xa vài điểm đặc sắc của vùng này.  Thí dụ như di tích lịch sử lầu Ông Hoàng, một biệt thự nằm trên đồi do Công tước De Montpensier cháu nội vua Louis-Philippe Đệ nhất của Pháp xây lên vào đầu thế kỷ thứ 20.  Ngoài ra, bãi Rạng yên bình là bãi biển lý tưởng để ngắm nhìn; hòn Ghềnh, còn gọi là hòn Lao, là một đảo nhỏ gần bờ với cảnh thiên nhiên hoang sơ và nước biển trong xanh; và những đồi cát thơ mộng có hình dáng đặc biệt thay đổi theo giờ, ngày, và tháng.

    Chẳng bao lâu, tôi khám phá ra bãi biển và cảnh đẹp ven đường đã bị che khuất bởi những rì-dọọc (“resort” hay “khu nghỉ dưỡng” là khách sạn trang bị thêm phương tiện giải trí cho khách tiêu khiển) hai bên đường.  Anh tài xế, một thanh niên trạc 31, 32 tuổi, nhắc nhở một thực tế khó ngửi,

                “Cô chú là ‘Việt kiều’ muốn coi cảnh đẹp Mũi Né phải vô ở trong mấy cái rì-dọọc và mua vé đi tua [tour].”

    Khi tôi muốn tìm nơi trống trải để ngắm phong cảnh, tài xế cho xe vào một khu đất rộng xa các rì-dọọc và ngừng lại trước một ngôi nhà lớn hở vách có những tấm bảng lớn sơn đỏ ghi chi chít tên họ.  Tôi xuống xe nhìn quanh, dường như đó là nghĩa địa của một bang Hoa kiều.  Tôi lạnh xương sống nhận ra đã từng thấy cảnh trí này trong một số giấc mơ gần đây.

    Số là trong những năm mới trưởng thành, tôi thường có linh tính báo trước quãng đời tương lai của mình.  Chẳng hạn, vào năm cuối bậc trung học tôi nhất định sẽ làm kỹ sư điện và chỉ nộp đơn xin thi vào trường Cao đẳng Điện học.  Nhưng trước khi đậu vào trường, nhiều đêm tôi nằm mơ “thấy” mình cầm viên phấn đứng trước bảng đen giảng bài, khác hẳn với ước mơ ban ngày – làm kỹ sư mặc đồ ka-ki đội nón an toàn và xắn tay áo đứng chỉ huy giữa công trường.

    Năm sau, điều tôi “thấy trước” dần dần thành thực.  Trong thời gian học trường kỹ sư, tôi đi dạy kèm tư gia và trường trung học tư để kiếm sống.  Ngày tốt nghiệp, khóa kỹ sư điện gặp khó khăn vì không có đủ cơ quan tuyển dụng, và tôi không muốn tranh giành chỗ làm với bạn đồng khóa cần việc làm hơn nên tiếp tục học lên tiến sĩ kỹ sư tại Đại học Khoa học Sài gòn.  Sau đó, làm giảng viên tại Đại học Minh Đức là một đại học tư và sau cùng trở về trường mẹ ôm thêm một chức vụ giảng huấn.  Thế là tôi trở thành . . . giáo gian – như các bạn gọi đùa.

    Trong những năm dạy học, tôi bỏ ý định đi du học và không bao giờ nghĩ mình sẽ sống ở ngoại quốc, mặc dù ông nhạc xem tướng và cả quyết thế nào tôi cũng xuất ngoại.  Về hưu sau nhiều năm làm việc ở bộ Quốc gia Giáo dục, ông ra công nghiên cứu phép coi tướng đông phương cũng như kinh Pháp Hoa, tức là Diệu pháp Liên hoa kinh, bộ kinh quan trọng chứa đựng quan điểm chủ yếu của Phật giáo.  Tuy nhiên, nhiều đêm tôi nằm mơ “thấy” mình ngồi làm việc trước một dụng cụ mà sau này tôi mới biết là màn ảnh điện toán, hay đứng thuyết trình trước một đám người ngoại quốc.  Đùng một cái, Tháng Tư Đen xảy đến, và nước mất.  Tôi gạt nước mắt bỏ xứ ra đi và sinh sống và làm việc nơi đất khách xa lạ – như đã “thấy trước”!

    Nay thấy khung cảnh khá quen thuộc tại khu nghĩa trang mới đến lần đầu, tôi thót ruột nghĩ tới điềm chiêm bao:  Phải chăng nơi đây sẽ là “chỗ ở” của tôi sau này?  Nếu thế, chắc hẳn tôi sẽ chết trong một chuyến về Việt nam nào đó và được chôn tại đây – sao vậy được?  Đang nơm nớp lo sợ, tôi nghe Quỳnh Châu lên tiếng hỏi tài xế,

                “Chú tài ơi, Mũi Né là chỗ du lịch mà sao nghĩa trang lớn quá vậy ?”

                “Nhiều ‘Việt kiều’ cũng thắc mắc như cô,” anh cười nửa miệng trả lời, “Sau năm 1975, do sự tranh chấp và phân chia quyền hành và quyền lợi giữa các ‘quan chức’ cao cấp ngoài Hà nội, bản đồ hành chánh của thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi liên tục như sáng nắng chiều mưa.  Để con nói cho cô chú nghe.”

    Ban đầu, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, và Bình Tuy được gộp lại thành tỉnh Thuận Hải với tỉnh lỵ là Phan Rang, và năm sau tỉnh lỵ lại chuyển qua Phan Thiết.  Đầu thập niên 1990, Thuận Hải lại tách ra thành hai tỉnh riêng rẽ là Bình Thuận và Ninh Thuận, trong đó Bình Thuận mới bao gồm cả Bình Tuy cũ.  Rồi Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận, được “nâng cấp” thành “thành phố” Phan Thiết.

    Bản đồ các tỉnh thay đổi xoành xoạch theo nhu cầu và tham tâm của các sếp lớn ở trung ương, và đàn em họ ở cấp vùng, tỉnh, hay huyện tận tình tranh đấu lấn đất giành dân.  Vì đất và dân là đám “dân Ngụy” là tiền là vàng là của cải để chúng đe dọa, lợi dụng, tham nhũng, cướp đoạt, và vơ vét.  Bản đồ hành chánh của Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi như chong chóng:  Hết xã hay phường này chuyển sang huyện khác, đến xã hay phường mới được thành lập từ các phần của huyện khác.  Thí dụ, xã Hàm Tiến và thị trấn Mũi Né thuộc huyện Hàm Thuận cũ chuyển về trực thuộc Phan Thiết; đồng thời thị trấn Mũi Né chuyển thành phường Mũi Né.  Mũi Né với những rì-dọọc trở thành kho tiền bạc vô tận cho ‘quan chức’ moi tiền hối lộ.

    Tôi bắt đầu hiểu chuyện, nhưng vẫn còn thắc mắc,

                “Tại sao phân chia đất về mặt hành chánh lại làm cho nghĩa trang này rộng lớn?”

                “Chú ơi, vụ chia dân chia đất – nhà ở, buôn bán, hay trồng trọt – rồi cũng tới lượt các nghĩa địa nhỏ của mấy bang nhóm trong khu vực Phan Thiết.  Đất thì ở đó, nhưng người chết không thể thò tiền ra nên nhà nước bắt thân nhân cải táng và sau đó ra lệnh tất cả nghĩa địa phải dời ra đây.  Đất nghĩa địa cũ được chia chác theo cách chuyển đổi phường xã như trước.”

    Anh tài xế đưa tay chỉ chung quanh,

                “Nghĩa địa bây giờ là đất chôn của nhiều bang hội.  Chú thấy cái nhà ngay cổng có bảng ghi tông chi người quá cố không?  Đó là nghĩa địa bang Triều Châu.  Còn ở cuối nghĩa địa, mộ có gắn thánh giá lớn màu trắng là của dân chài lưới Công giáo hồi xưa di cư từ Quảng Bình vào.”

                Eureka [Tôi hiểu rồi]!” tôi buột miệng la lên vì giải tỏa được nỗi lo lắng trong lòng, trong khi anh ngơ ngác không hiểu tôi nói gì.

    Ba mươi bảy năm trước, tôi đến Phan Thiết lần đầu khi theo quan tài Đắc về đây.  Đắc học cùng lớp kỹ sư điện với tôi.  Cuối tuần sau lễ Giáng sinh năm chúng tôi học đệ tam niên, Đắc đi Vũng Tàu chơi với hai người bạn học khác.  Xe đò lật, bốn bánh chổng lên trời.  Trên xe không ai bị thương tích, ngoại trừ Đắc.  Nó bị cái que nhỏ như cây đinh trên thành ghế đâm vào tử huyệt sau gáy và ra đi không kịp kêu một tiếng.  Gia đình Đắc là người Việt gốc Triều Châu nên chôn nó ở nghĩa trang Triều Châu.

    Bốn năm sau đó, tôi lại ra Phan Thiết đi đám tang của Quan, em cùng cha khác mẹ của tôi.  Ngày tôi chưa đầy ba tuổi, cha trai gái với mẹ em là dì Lang ở Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình, và em ra đời.  Rồi dì bồng em theo dân đánh cá làng Tam Tòa thuộc Đồng Hới di cư vào Phan Thiết lập nghiệp và lập gia đình mới.  Khi em được 15 tuổi, mẹ và dì liên lạc với nhau để mỗi mùa hè cho em về sống với gia đình tôi một tháng “cho anh em hắn biết nhau,” cho đến khi em gia nhập Hải quân.  Mang lon trung sĩ không tới nửa năm, em tử trn và được chôn ở nghĩa trang làng Tam Tòa.

    Như thế, cảnh nghĩa trang “thấy” trong giấc mơ là hình ảnh tôi đã thực sự trông thấy ngoài đời.  Mẹ hay nói thằng Bé (tên ở nhà của tôi thời còn bé) là đứa nhớ dai, cũng vì nhớ dai mà hôm nay xuýt nữa đâm ra lo ngay ngáy sẽ vùi thân nơi đất lạ.  Hú hồn!

    * * *

    Đi dọc theo bờ biển tới Phan Rí Cửa, chúng tôi vào Quốc lộ 1 và chạy về hướng bắc.  Ngày xưa, tôi đi lại nhiều lần bằng xe đò trên con đường từ Phan Rang ra Nha Trang và Tuy Hòa.  Những cánh đồng hai bên đường trông vẫn như xưa, nhưng dân làm ruộng thấy nghèo hơn.  Người ta còn dùng gàu dai để tát nước vào ruộng; đó là loại gàu có bốn sợi dây dài cho hai người đứng hai bên bờ ruộng tát nước.  Và lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cảnh “trâu người” cày ruộng như ở miền Bắc mà tôi đã đọc trong sách:  Người đàn bà mang “ách” đi trước cong lưng kéo, và người đàn ông đi sau ra sức đẩy cày.  Một cảnh tượng khiến tôi bật cười chua chát:  Ba mươi năm tiến bộ của xã hội chủ nghĩa!

    Xe chạy ngang qua Tuy Hòa, nơi cha từng giữ chức vụ cầm đầu tỉnh Phú Yên, tôi biểu tài xế lái xe vào thị xã, chạy một vòng trên đường Trần Hưng Đạo xuống bãi biển, và đi qua khu dinh thự có ngôi nhà gia đình tôi ở gần sáu năm.  Khi đi qua núi Chóp Chài nằm sát Quốc lộ 1 và cách Tuy Hòa khoảng bốn cây số, tôi thầm nói lời chia tay với thành phố ghi nhiều kỷ niệm buồn vui của thời trẻ tuổi,

    Ngọn Chóp Chài đã cao lắm bấy,

    Trông hủy trông hoài không thấy người thương.

    Trời chập choạng tối khi chúng tôi tới Quảng Ngãi để nghỉ đêm và để hôm sau viếng thăm khu di tích Mỹ Sơn của người Chàm.  Thành phố tiêu điều vắng vẻ, không có một chút sinh khí.  Tôi không nhớ điều gì đáng kể về Quảng Ngãi ngoài câu vè học được ngày ở Huế,

    Quảng Nam hay cãi

    Quảng Ngãi hay lo

    Bình Định hay co

    Thừa Thiên lủm hết.

    “Lủm” là thảy vào miệng ăn gọn gàng, và “lủm hết” nghĩa rộng là thừa cơ vơ vét để thủ lợi.  Sau khi lấy phòng khách sạn, chúng tôi chạy xe quanh phố tìm chỗ ăn tối, nhưng hàng quán đóng cửa.  Cuối cùng tìm thấy một bà bán cháo rong đang gánh hàng về nhà, vợ chồng tôi và tài xế ngồi bên lề đường húp cháo vét nồi, mong là không phải phần cháo bà để dành cho con ở nhà.

    Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp đường kính khoảng hai cây số thuộc làng Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng 70 cây số về phía nam, và cách Trà Kiệu là kinh đô cổ của Chiêm thành 20 cây số về phía tây.  Mỹ Sơn từng là nơi cúng tế của các triều vua Chiêm thành và hiện có 32 tháp Chàm lớn nhỏ với kiến trúc và hình thể tương tự như nhau.  Khu di tích được coi là một đền đài Ấn độ giáo đáng kể; năm 1999 được cơ quan Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới và tài trợ để bảo tồn; và được nhà nước ra sức tung hô để mời gọi du khách ngoại quốc.

                 Tôi đã từng viếng tháp Chàm ở Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, và Phan Rang nên không mấy ngạc nhiên hay hào hứng về những kiến trúc cổ tại Mỹ Sơn.  Càng đi sâu vào khu di tích này, tôi càng cảm thấy một nỗi buồn mênh mang ngấm dần vào hồn.  Như để giải thích tâm trạng của kẻ xa xứ vừa trở về, bài thơ “Trên Đường Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế Lan Viên (1920 - 1989) hiện ra trong trí,

    Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi

    Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian

    Những sông vắng lê mình trong bóng tối

    Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

    Điêu Tàn, tác phẩm đầu tay ra đời lúc Chế Lan Viên mới 17 tuổi, là cảm xúc mạnh mẽ chót vót của nhà thơ về Chiêm thành.  Ông xót thương cho sự điêu tàn của quốc gia này đến nỗi lấy họ “Chế” của người Chàm làm họ của bút hiệu, trong khi tên thực là Phan Ngọc Hoan.  Trong suốt tập thơ, ông hóa thân vào linh hồn dân Chàm làm những kẻ mất nước đau đớn vọng về cố quốc.  Chiêm thành đã bị tiêu diệt hơn năm thế kỷ; nay còn không tới 150 ngàn người Chàm sống ở Ninh Thuận, Bình Thuận, và Phú Yên.

    Trông người lại ngẫm đến ta, tôi và hơn ba triệu “Việt kiều” theo mệnh nước lưu vong khắp thế giới trong vòng 30 năm nay.  Giữa những ngôi tháp cổ im lìm, nỗi hờn vong quốc của người Chàm và nỗi hờn vong quốc của kẻ lưu vong hòa vào nhau như tiếng thở dài của thời gian.  Hai bên đều khắc khoải trong lòng một đất nước đã mất.  Khó có thể nói, ai hờn hơn ai.

    Nguyễn Ngọc Hoa

                                                Ngày 26 tháng Mười Một, 2025

    ************************

    Truyện ngắn mới: "Ai Hờn Hơn Ai" (Tháng Mười Một 2025) -- Nguyễn Ngọc Hoa

    Mời đọc truyện ngắn thứ hai mươi bốn và cũng là truyện ngắn cuối cùng trong

    loạt truyện "Bước Lưu Ly," hay Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa XII.

    Xin đọc bản text dưới đây hay bản .pdf đính kèm.

    Để đọc các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa đã phổ biến trước đây, mời quý thân hữu vào trang "Truyện Ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa" ở trong Trang nhà "Thân hữu Điện lực":

     https://dconnect.co.jp/friend/tacbut/nv-hoa/TruyenNgan_NNHoa/TruyenNgan-NNH.html

     https://dconnect.co.jp/friend/

    Xin chúc quý thân hữu và quý quyến một cuối tuần vui vẻ và thân tâm thường an lạc.

    PS -- Lần tới, chúng tôi sẽ mời quý thân hữu thưởng lãm truyện ngắn đầu tiên trong loạt truyện mới, Tập Truyện Nguyễn Ngọc Hoa XIII

    24. Ai Hờn Hơn Ai

    Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Hoa

    Ngày thứ hai của chuyến đi miền Trung bằng xe thuê có tài xế, chúng tôi rời Phan Thiết bằng con đường dọc theo bờ biển ra Mũi Né, một địa điểm nổi tiếng tôi chưa từng ghé tới mặc dù đã viếng Phan Thiết gần chục lần.  Lần này, tôi hy vọng sẽ có dịp chiêm ngưỡng từ xa vài điểm đặc sắc của vùng này.  Thí dụ như di tích lịch sử lầu Ông Hoàng, một biệt thự nằm trên đồi do Công tước De Montpensier cháu nội vua Louis-Philippe Đệ nhất của Pháp xây lên vào đầu thế kỷ thứ 20.  Ngoài ra, bãi Rạng yên bình là bãi biển lý tưởng để ngắm nhìn; hòn Ghềnh, còn gọi là hòn Lao, là một đảo nhỏ gần bờ với cảnh thiên nhiên hoang sơ và nước biển trong xanh; và những đồi cát thơ mộng có hình dáng đặc biệt thay đổi theo giờ, ngày, và tháng.

    Chẳng bao lâu, tôi khám phá ra bãi biển và cảnh đẹp ven đường đã bị che khuất bởi những rì-dọọc (“resort” hay “khu nghỉ dưỡng” là khách sạn trang bị thêm phương tiện giải trí cho khách tiêu khiển) hai bên đường.  Anh tài xế, một thanh niên trạc 31, 32 tuổi, nhắc nhở một thực tế khó chịu,

    “Cô chú là ‘Việt kiều’ muốn coi cảnh đẹp Mũi Né phải vô ở trong mấy cái rì-dọọc và mua vé đi tua [tour].”

     Khi tôi muốn tìm nơi trống trải để ngắm phong cảnh, tài xế cho xe vào một khu đất rộng xa các rì-dọọc và ngừng lại trước một ngôi nhà lớn hở vách có những tấm bảng lớn sơn đỏ ghi chi chít tên họ.  Tôi xuống xe nhìn quanh, dường như đó là nghĩa địa của một bang Hoa kiều.  Tôi lạnh xương sống nhận ra đã từng thấy cảnh trí này trong một số giấc mơ gần đây.

     Số là trong những năm mới trưởng thành, tôi thường có linh tính báo trước quãng đời tương lai của mình.  Chẳng hạn, vào năm cuối bậc trung học tôi nhất định sẽ làm kỹ sư điện và chỉ nộp đơn xin thi vào trường Cao đẳng Điện học.  Nhưng trước khi đậu vào trường, nhiều đêm tôi nằm mơ “thấy” mình cầm viên phấn đứng trước bảng đen giảng bài, khác hẳn với ước mơ ban ngày – làm kỹ sư mặc đồ ka-ki đội nón an toàn và xắn tay áo đứng chỉ huy giữa công trường.

     Năm sau, điều tôi “thấy trước” dần dần thành thực.  Trong thời gian học trường kỹ sư, tôi đi dạy kèm tư gia và trường trung học tư để kiếm sống.  Ngày tốt nghiệp, khóa kỹ sư điện gặp khó khăn vì không có đủ cơ quan tuyển dụng, và tôi không muốn tranh giành chỗ làm với bạn đồng khóa cần việc làm hơn nên tiếp tục học lên tiến sĩ kỹ sư tại Đại học Khoa học Sài gòn.  Sau đó, làm giảng viên tại Đại học Minh Đức là một đại học tư và sau cùng trở về trường mẹ ôm thêm một chức vụ giảng huấn.  Thế là tôi trở thành . . . giáo gian –  như các bạn gọi đùa.

     Trong những năm dạy học, tôi bỏ ý định đi du học và không bao giờ nghĩ mình sẽ sống ở ngoại quốc, mặc dù ông nhạc xem tướng và cả quyết thế nào tôi cũng xuất ngoại.  Về hưu sau nhiều năm làm việc ở bộ Quốc gia Giáo dục, ông ra công nghiên cứu phép coi tướng đông phương cũng như kinh Pháp Hoa, tức là Diệu pháp Liên hoa kinh, bộ kinh quan trọng chứa đựng quan điểm chủ yếu của Phật giáo.  Tuy nhiên, nhiều đêm tôi nằm mơ “thấy” mình ngồi làm việc trước một dụng cụ mà sau này tôi mới biết là màn ảnh điện toán, hay đứng thuyết trình trước một đám người ngoại quốc.  Đùng một cái, Tháng Tư Đen xảy đến, và nước mất.  Tôi gạt nước mắt bỏ xứ ra đi và sinh sống và làm việc nơi đất khách xa lạ – như đã “thấy trước”!

    Nay thấy khung cảnh khá quen thuộc tại khu nghĩa trang mới đến lần đầu, tôi thót ruột nghĩ tới điềm chiêm bao:  Phải chăng nơi đây sẽ là “chỗ ở” của tôi sau này?  Nếu thế, chắc hẳn tôi sẽ chết trong một chuyến về Việt nam nào đó và được chôn tại đây – sao vậy được?  Đang nơm nớp lo sợ, tôi nghe Quỳnh Châu lên tiếng hỏi tài xế,

    “Chú tài ơi, Mũi Né là chỗ du lịch mà sao nghĩa trang lớn quá vậy nè?”

    “Nhiều ‘Việt kiều’ cũng thắc mắc như cô,” anh cười nửa miệng trả lời, “Sau năm 1975, do sự tranh chấp và phân chia quyền hành và quyền lợi giữa các ‘quan chức’ cao cấp ngoài Hà nội, bản đồ hành chánh của thành phố Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi liên tục như sáng nắng chiều mưa.  Để con nói cho cô chú nghe.”

    Ban đầu, ba tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, và Bình Tuy được gộp lại thành tỉnh Thuận Hải với tỉnh lỵ là Phan Rang, và năm sau tỉnh lỵ lại chuyển qua Phan Thiết.  Đầu thập niên 1990, Thuận Hải lại tách ra thành hai tỉnh riêng rẽ là Bình Thuận và Ninh Thuận, trong đó Bình Thuận mới bao gồm cả Bình Tuy cũ.  Rồi Phan Thiết, tỉnh lỵ của Bình Thuận, được “nâng cấp” thành “thành phố” Phan Thiết.

     Bản đồ các tỉnh thay đổi xoành xoạch theo nhu cầu và tham tâm của các sếp lớn ở trung ương, và đàn em họ ở cấp vùng, tỉnh, hay huyện tận tình tranh đấu lấn đất giành dân.  Vì đất và dân là đám “dân Ngụy” là tiền là vàng là của cải để chúng đe dọa, lợi dụng, tham nhũng, cướp đoạt, và vơ vét.  Bản đồ hành chánh của Phan Thiết và tỉnh Bình Thuận thay đổi như chong chóng:  Hết xã hay phường này chuyển sang huyện khác, đến xã hay phường mới được thành lập từ các phần của huyện khác.  Thí dụ, xã Hàm Tiến và thị trấn Mũi Né thuộc huyện Hàm Thuận cũ chuyển về trực thuộc Phan Thiết; đồng thời thị trấn Mũi Né chuyển thành phường Mũi Né.  Mũi Né với những rì-dọọc trở thành kho tiền bạc vô tận cho ‘quan chức’ moi tiền hối lộ.

    Tôi bắt đầu hiểu chuyện, nhưng vẫn còn thắc mắc,

    “Tại sao phân chia đất về mặt hành chánh lại làm cho nghĩa trang này rộng lớn?”

    “Chú ơi, vụ chia dân chia đất – nhà ở, buôn bán, hay trồng trọt – rồi cũng tới lượt các nghĩa địa nhỏ của mấy bang nhóm trong khu vực Phan Thiết.  Đất thì ở đó, nhưng người chết không thể thò tiền ra nên nhà nước bắt thân nhân cải táng và sau đó ra lệnh tất cả nghĩa địa phải dời ra đây.  Đất nghĩa địa cũ được chia chác theo cách chuyển đổi phường xã như trước.”

    Anh tài xế đưa tay chỉ chung quanh,

    “Nghĩa địa bây giờ là đất chôn của nhiều bang hội.  Chú thấy cái nhà ngay cổng có bảng ghi tông chi người quá cố không?  Đó là nghĩa địa bang Triều Châu.  Còn ở cuối nghĩa địa, mộ có gắn thánh giá lớn màu trắng là của dân chài lưới Công giáo hồi xưa di cư từ Quảng Bình vào.”

    “Eureka [Tôi hiểu rồi]!” tôi buột miệng la lên vì giải tỏa được nỗi lo lắng trong lòng, trong khi anh tài xế ngơ ngác  không hiểu tôi nói gì.

    Ba mươi bảy năm trước, tôi đến Phan Thiết lần đầu khi theo quan tài Đắc về đây.  Đắc học cùng lớp kỹ sư điện với tôi.  Cuối tuần sau lễ Giáng sinh năm chúng tôi học đệ tam niên, Đắc đi Vũng Tàu chơi với hai người bạn học khác.  Xe đò lật, bốn bánh chổng lên trời.  Trên xe không ai bị thương tích, ngoại trừ Đắc.  Nó bị cái que nhỏ như cây đinh trên thành ghế đâm vào tử huyệt sau gáy và ra đi không kịp kêu một tiếng.  Gia đình Đắc là người Việt gốc Triều Châu nên chôn nó ở nghĩa trang Triều Châu.

    Bốn năm sau đó, tôi lại ra Phan Thiết đi đám tang của Quan, em cùng cha khác mẹ của tôi.  Ngày tôi chưa đầy ba tuổi, cha trai gái với mẹ em là dì Lang ở Đồng Hới, tỉnh lỵ của Quảng Bình, và em ra đời.  Rồi dì bồng em theo dân đánh cá làng Tam Tòa thuộc Đồng Hới di cư vào Phan Thiết lập nghiệp và lập gia đình mới.  Khi em được 15 tuổi, mẹ và dì liên lạc với nhau để mỗi mùa hè cho em về sống với gia đình tôi một tháng “cho anh em hắn biết nhau,” cho đến khi em gia nhập Hải quân.  Mang lon trung sĩ không tới nửa năm, em tử trận và được chôn ở nghĩa trang làng Tam Tòa.

    Như thế, cảnh nghĩa trang “thấy” trong giấc mơ là hình ảnh tôi đã thực sự trông thấy ngoài đời.  Mẹ hay nói thằng Bé (tên ở nhà của tôi thời còn bé) là đứa nhớ dai, và cũng vì nhớ dai mà hôm nay xuýt nữa đâm ra lo ngay ngáy sẽ vùi thân nơi đất lạ.  Hú hồn!

    * * *

    Đi dọc theo bờ biển tới Phan Rí Cửa, chúng tôi vào Quốc lộ 1 và chạy về hướng bắc.  Ngày xưa, tôi đi lại nhiều lần bằng xe đò trên con đường từ Phan Rang ra Nha Trang và Tuy Hòa.  Những cánh đồng hai bên đường trông vẫn như xưa, nhưng dân làm ruộng thấy nghèo hơn.  Người ta còn dùng gàu dai để tát nước vào ruộng; đó là loại gàu có bốn sợi dây dài cho hai người đứng hai bên bờ ruộng tát nước.  Và lần đầu tiên trong đời, tôi thấy cảnh “trâu người” cày ruộng như ở miền Bắc mà tôi đã đọc trong sách:  Người đàn bà mang “ách” đi trước cong lưng kéo, và người đàn ông đi sau ra sức đẩy cày.  Một cảnh tượng khiến tôi bật cười chua chát:  Ba mươi năm tiến bộ của xã hội chủ nghĩa!

     Xe chạy ngang qua Tuy Hòa, nơi cha từng giữ chức vụ cầm đầu tỉnh Phú Yên, tôi biểu tài xế lái xe vào thị xã, chạy một vòng trên đường Trần Hưng Đạo xuống bãi biển, và đi qua khu dinh thự có ngôi nhà gia đình tôi ở gần sáu năm.  Khi đi qua núi Chóp Chài nằm sát Quốc lộ 1 và cách trung tâm Tuy Hòa khoảng bốn cây số, tôi thầm nói lời chia tay với thành phố ghi nhiều kỷ niệm buồn vui của thời trẻ tuổi,

    Ngọn Chóp Chài đã cao lắm bấy,

     Trông hủy trông hoài không thấy người thương.

    Trời chập choạng tối khi chúng tôi tới Quảng Ngãi để nghỉ đêm và để hôm sau viếng thăm khu di tích Mỹ Sơn của người Chàm.  Thành phố tiêu điều vắng vẻ, không có một chút sinh khí.  Tôi không nhớ điều gì đáng kể về Quảng Ngãi ngoài câu vè học được ngày ở Huế,

    Quảng Nam hay cãi

    Quảng Ngãi hay lo

    Bình Định hay co

    Thừa Thiên lủm hết.

    “Lủm” là thảy vào miệng ăn gọn gàng, và “lủm hết” nghĩa rộng là thừa cơ vơ vét để thủ lợi.  Sau khi lấy phòng khách sạn, chúng tôi chạy xe quanh phố tìm chỗ ăn tối, nhưng hàng quán đóng cửa.  Cuối cùng tìm thấy một bà bán cháo rong đang gánh hàng về nhà, vợ chồng tôi và tài xế ngồi bên lề đường húp cháo vét nồi, mong là không phải phần cháo bà để dành cho con ở nhà.

     Khu di tích Mỹ Sơn nằm trong một thung lũng hẹp đường kính khoảng hai cây số thuộc làng Mỹ Sơn tỉnh Quảng Nam, cách Đà Nẵng 70 cây số về phía nam, và cách Trà Kiệu là kinh đô cổ của Chiêm thành 20 cây số về phía tây.  Mỹ Sơn từng là nơi cúng tế của các triều vua Chiêm thành và hiện có 32 tháp Chàm lớn nhỏ với kiến trúc và hình thể tương tự như nhau.  Khu di tích được coi là một đền đài Ấn độ giáo đáng kể; năm 1999 được cơ quan Giáo dục, Khoa học, và Văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa thế giới và tài trợ để bảo tồn; và được nhà nước ra sức tung hô để mời gọi du khách ngoại quốc.

    Tôi đã từng viếng tháp Chàm ở Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, và Phan Rang nên không mấy ngạc nhiên hay hào hứng về những kiến trúc cổ tại Mỹ Sơn.  Càng đi sâu vào khu di tích  này, tôi càng cảm thấy một nỗi buồn mênh mang ngấm dần vào hồn.  Như để giải thích tâm trạng của kẻ xa xứ vừa trở về, bài thơ “Trên Đường Về” trong tập thơ Điêu Tàn của Chế Lan Viên (1920 - 1989) hiện ra trong trí,

     Đây, những Tháp gầy mòn vì mong đợi

    Những đền xưa đổ nát dưới Thời gian

    Những sông vắng lê mình trong bóng tối

     Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

     Điêu Tàn, tác phẩm đầu tay ra đời lúc Chế Lan Viên mới 17 tuổi, là cảm xúc mạnh mẽ chót vót của nhà thơ về Chiêm thành.  Ông xót thương cho sự điêu tàn của quốc gia này đến nỗi lấy họ “Chế” của người Chàm làm họ của bút hiệu, trong khi tên thực là Phan Ngọc Hoan.  Trong suốt tập thơ, ông hóa thân vào linh hồn dân Chàm làm những kẻ mất nước đau đớn vọng về cố quốc.  Chiêm thành đã bị tiêu diệt hơn năm thế kỷ; nay còn không tới 150 ngàn người Chàm sống ở Ninh Thuận, Bình Thuận, và Phú Yên.

     Trông người lại ngẫm đến ta, tôi và hơn ba triệu “Việt kiều” theo mệnh nước lưu vong khắp thế giới trong vòng 30 năm nay.  Giữa những ngôi tháp cổ im lìm, nỗi hờn vong quốc của người Chàm và nỗi hờn vong quốc của kẻ lưu vong hòa vào nhau như tiếng thở dài của thời gian.  Hai bên đều khắc khoải trong lòng một đất nước đã mất.  Khó có thể nói, ai hờn hơn ai.

     

    Nguyễn Ngọc Hoa

    Ngày 26 tháng Mười Một, 2025


    Download all attachments as a zip file

    24. Ai Hon Hon Ai - Nguyen Ngoc Hoa - 26 Nov 2025.pdf

    223.4 Kb

    *********************

     


    • Blogger Comments
    • Facebook Comments
    Item Reviewed: SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 TRANG TRUYỆN NGẮN NHÀ VĂN NGUYỄN NGỌC HOA GIẢ NGU TÌM BỌ-LÀM CHUYỆN TÀO LAO-3 THẰNG BẠN ĐÀ LẠT Rating: 5 Reviewed By: SA CHI LỆ
    Scroll to Top