728x90 AdSpace

Smiley face
  • Latest News

    DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VBQGVN 3 SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25 SỰ THẬT HUYỀN THOẠI ĐẠO...

    SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25 SỰ THẬT HUYỀN THOẠI ĐỊA ĐẠO CỦ CHI...

    !!!!!! TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM - THE VIETNAMESE NATIONAL MILITARY ACADEMY [VNMA] !!!!!!

    !!!!!! DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM, NƠI QUY TỤ NHỮNG CSVSQ VÕ BỊ, CHIẾN HỮU,

    THÂN HỮU CÒN LÝ TƯỞNG VÀ DANH DỰ, KHÔNG VỀ VIỆT NAM KHI CÒN VIỆT CỘNG !!!!!!




    *****




    *******

    TRUYỆN THÁNG TƯ: QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25.

    'TROI BIEN TU' via vnch-net

    Tue, Apr 23 at 10:53 p.m.

     QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25.

     Hà Nội và tướng lãnh Bắc Việt thường khoe khoang chiến thắng tháng 4.1975, nhưng tình thực thì Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt hai mươi năm đấu tranh, vẫn luôn là cơn ác mộng của của quân đội BV. Chỉ đến khi toàn thế giới cộng sản và tư bản đồng lần trói tay trói chân Quân Lực dũng mãnh ấy không cho đánh, thì quân đội Bắc Việt mới có cơ may đánh thắng được.

    Sau gần nửa thế kỷ từ 1975 đến nay, thì bí mật về chiến tranh Việt Nam đã gần như hoàn toàn được làm sáng tỏ. Chiến thắng trước Miền Nam của Bắc Việt là món quà của những thế lực bạn lẫn thù của Miền Nam. Nếu trong năm 1974, Nga Sô và Trung Cộng không viện trợ Hà Nội 1,7 tỉ mỹ kim tiếp liệu quân sự, thì quân đội Miền Bắc đào đâu ra súng đạn để tiến đánh Miền Nam. Con số này gấp hơn 5 lần con số Miền Nam chờ Quốc Hội chuẩn chi là 300 triệu mỹ kim, nhưng không một xu teng nào đến.

    Cái thế thắng thua đã rõ ràng như vậy, ông Tổng Thống đã bí mật ra đi, cái thời hạn 30.6.1975 gần đến, là ngày khởi đầu Hoa Kỳ viện trợ cho tài khóa 1975-1976, toàn quân cán chính VNCH sẽ không lãnh được một đồng xu lương nào vì người Mỹ không tháo khoán viện trợ, tưởng chừng như quân đội sẽ tự động tan rã. Nhưng trong thực tế, toàn QLVNCH vẫn giữ vững mọi chiến tuyến, sẵn sàng trận thư hùng cuối cùng, dù xác thân có nát tan trong cơn bão lửa kinh thiên của binh đội Bắc Việt giáng xuống.

    Toàn quân chờ đợi một An Lộc của năm 1975, tuy biết rằng sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Hà Nội đâu có muốn san bằng Sài Gòn thành bình địa, bởi biết sẽ trả một cái giá rất đắt, vì mỗi NGƯỜI LÍNH của chúng ta thề cho bộ đội BV trả một cái giá đắt nhứt.

    Trung Tá Lê Bá Bình

    Những điều này hoàn toàn là sự thực nếu Hà Nội liều lĩnh muốn làm nhục QLVNCH ở ngưỡng cửa Sài Gòn, nên Hà Nội thích chọn “giải pháp Dương Văn Minh” hơn. Trong những chuỗi ngày dài như vô tận cuối tháng 4.1975 và trong những thời điểm nguy nan nhứt, anh hùng hào kiệt Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn tận trung báo quốc, thề thà poncho bọc thây hơn là cúi đầu buông súng đầu hàng.

    Những tên tuổi kiệt liệt nhứt, các đơn vị thiện chiến của QLVNCH vẫn giữ vững chiến tuyến và vẫn đem những cơn ác mộng đến cho binh đội Miền Bắc.
    Từ trong cơn phong ba bão lửa ấy sừng sững hiện ra những dũng tướng đầy huyền thoại, người dân Hố Nai, Biên Hòa hân hoan biết ngần nào khi đón nhận Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến đến lập chiến tuyến bảo vệ thị trấn. Càng cảm thấy an toàn hơn, khi được biết trong đoàn quân Mũ Xanh ấy có một người hào kiệt lừng lẫy với cái tên từng được đồng bào và chiến sĩ vô cùng ngưỡng mộ: Trung Tá Lê Bá Bình và Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Thủy Quân Lục Chiến.

    Tháng 4.1972, Trung Tá Bình cùng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển TQLC của ông đã chận giặc tại chiến tuyến Đông Hà, không cho một chiếc dép râu nào bước lên bờ Nam sông Đông Hà ròng rã 30 ngày. Tháng 9.1972, Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng cùng Tiểu Đoàn 3 Sói Biển trong buổi sáng mù sương dưới bầu trời xám xịt lạnh giá vì cơn bão Flussy đã hò reo dựng cờ Vàng Đại Nghĩa trên Cổ Thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị. Ngày ấy là ngày 16.9.1972. Giờ đây cũng chính ông và Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh sẽ viết một trang sử hào hùng khác: không cho binh đội BV bén mảng đến Sài Gòn. Chúng ta hãy cùng theo dõi trận đánh phi thường cuối cùng trong đời binh nghiệp của người hào kiệt Trung Tá Lê Bá Bình.

    Ngày 20.4.1975, Sư Đoàn 18 Bộ Binh của Thiếu Tướng Lê Minh Đảo triệt thoái ra khỏi thị xã Xuân Lộc theo lệnh của Tư Lệnh Quân Đoàn III, Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, để lập phòng tuyến bảo vệ phía Đông Sài Gòn. Thiếu Tướng Đảo và Bộ Tham Mưu của ông đã thiết kế một kế hoạch rút quân tuyệt hảo theo đường Liên Tỉnh Lộ Xuân Lộc – Bà Rịa, đem về hầu như toàn bộ quân số và vũ khí, tiếp liệu. Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH tái bố trí Sư Đoàn về khu vực Trảng Bom lập chiến tuyến. Trảng Bom là vùng đất nằm giữa Sài Gòn và Xuân Lộc, ở đây Thiếu Tướng Đảo chờ đợi cuộc tái ngộ với Quân Đoàn 4 Bắc Việt của Tướng Hoàng Cầm

    Thiếu tướng Lê Minh Đảo: “I will knock them down”

    Ngày 27.4.1975, lúc 4 giờ sáng rạng đông, Sư Đoàn 341 BV tấn công phòng tuyến của Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Cuộc cường kích phục hận của 341 BV nửa tháng trước ở Xuân Lộc với thiệt hại rất nặng (một bộ chỉ huy trung đoàn bị Không Quân VNCH dội cho hai quả bom 7 tấn tan tành) diễn ra kinh thiên. Các chiến sĩ SĐ18BB chống trả quyết liệt, nhưng với quân số thiếu hụt chỉ giữ được chiến tuyến đến 8:30 sáng thì trận liệt bị vỡ. Thiếu Tướng Đảo cùng chiến sĩ của ông lùi về Long Bình để tái tổ chức, sau đó toàn Sư đoàn lại được điều đến giữ Trảng Bom.
    Con đường Quốc Lộ 1 tiến về Sài Gòn của Quân Đoàn 4 BV đã rộng mở thênh thang. Mục tiêu kế tiếp của Quân Đoàn 4 BV là Hố Nai. Đến đây người đã gặp người, một con người mà quân Bắc chắc không muốn gặp: Trung Tá Lê Bá Bình và Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng Thủy Quân Lục Chiến. Chiến tuyến Hố Nai là khúc xương khó nuốt cuối cùng nằm chận đường tiến của Quân Đoàn 4 Bắc Việt.

    Muốn hoàn thành Chiến Dịch 275, tức Chiến Dịch Hồ Chí Minh, Quân Đoàn 4 BV phải đánh gục Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng. Nhưng hãy hỏi Trung Tá Bình và 600 tay súng TQLC có đồng ý hay không. Đó là chưa kể một Chi Đội M48 từ Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh tăng phái sẵn sàng nghênh đón đoàn tăng T54 và PT76 của quân Bắc. Lại kể thêm sự dũng cảm của lực lượng Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ Hố Nai, mà đã từng chống cự ác liệt cuộc tấn công hồi Tết Mậu Thân 1968. Chúng ta sẽ thấy rằng những người anh hùng vô danh của Hố Nai sẽ dùng những hỏa lực yếu kém của các anh kháng cự với cơn bão lửa của Quân Đoàn 4 BV và hầu như hoàn toàn anh dũng hy sinh sau khi Tiểu Đoàn 6 TQLC triệt thoái ra khỏi Hố Nai, lại cũng theo lệnh của Quân Đoàn III VNCH.

    M113, M48 và những Mũ Đen Kỵ Binh QLVNCH

    Là một trong những sĩ quan xuất sắc của binh chủng Mũ Xanh, Trung Tá Lê Bá Bình từng được tưởng thưởng nhiều huy chương, từ Bảo Quốc Huân Chương cho đến Anh Dũng Bội Tinh, Huy Chương Cao Quý Hoa Kỳ Ngôi Sao Bạc và Đồng. Trung Tá Bình và tiểu đoàn của ông chờ đợi cuộc thư hùng với binh đội Quân Đoàn 4 BV. Ký ức của cuộc triệt thoái ra khỏi Đà Nẵng hồi cuối tháng 3.1975 của Lữ Đoàn 369 TQLC hãy còn hằn đậm nhức buốt trong tâm tưởng của từng người lính Mũ Xanh. Giờ đây, hãy cho bộ đội BV biết thế nào là cơn thịnh nộ của Thủy Quân Lục Chiến. Một cậu bé tí hon David Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng nghênh chiến gã khổng lồ Goliah Quân Đoàn 4 BV, mà sẽ tung ra ít nhứt 10 tiểu đoàn bộ binh.

    Buổi sáng ngày 27.4.1975, cộng quân vẫn theo chiến thuật cổ điển Tiền Pháo Hậu Xung, đã dội một cơn bão lửa ầm ì lên khắp chiến tuyến của Thủy Quân Lục Chiến, đất trời rung chuyển dưới hàng ngàn quả đạn pháo, tiếp theo sau là một chi đội xe tăng cùng hai tiểu đoàn tùng thiết của Sư Đoàn 341 BV tiến quân vào vị trí của Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh. Trung Tá Bình lệnh cho chiến sĩ của ông cứ kiên nhẫn chờ cho quân địch tiến gần hơn. Rồi một cơn lửa đỏ cuồng nộ của Pháo Binh TQLC giáng lên đầu quân địch. Đội hình của những chú bé học sinh bộ đội 16, 17 tuổi thuộc Sư Đoàn 341 BV vỡ tan ra từng mảnh, một chiếc xe tăng cháy bùng. Sư Trưởng Trấn buộc phải lệnh cho quân của ông rút lui.

    Ngày hôm sau, Sư Đoàn 341 BV lại bị thúc xông vào tử địa. Để hy vọng đạt được thắng lợi nhanh chóng, Sư Trưởng Trần Văn Trấn điều 5 chiếc T54 và một trung đoàn bộ binh tấn công Trung Tá Bình. Chi Đội M48 của Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh phục sẵn bên chiến hào khai hỏa, trong phút chốc những khẩu đại bác 90 ly đã nướng sống 3 chiếc T54, trong khi Pháo Binh dội lên đầu trung đoàn bộ đội một cơn nhiệt nóng chết chóc khác. Nghĩa Quân Hố Nai ần náu trên những cao ốc nã súng dữ dội lên đội hình địch. Dẫu sao trung đoàn bộ đội cũng mở được ba lần tấn công cường kích, nhưng cuối cùng đều bị 600 tay súng Mũ Xanh đẩy lui. Quân địch tháo lui trong hỗn loạn, nhưng Trung Tá Bình đâu đã để yên, ông gọi pháo binh bắn đạn nổ chụp rải hàng trăm ngàn mảnh pháo lên trận liệt của giặc.

    Lần thứ hai, Sư Đoàn 341 BV buộc phải lùi xa ra khỏi trận địa liếm vết thương. Không chỉ Tiểu Đoàn 6 Mũ Xanh, mà trên toàn kháng tuyến của Lữ Đoàn 369 TQLC, quân Sư Đoàn 341 BV đều bị đẩy lui và chịu nhiều thiệt hại. Sau cuộc chiến bại Xuân Lộc, Sư Đoàn 341 BV cam chịu thất trận lần thứ hai. Xe tăng cháy nóng hừng hực và tử thi bộ đội nằm rải đầy trước chiến tuyến của Mũ Xanh.

     

    Thiếu Tá Phạm Châu Tài

    Tướng Lê Trọng Tấn, Tư Lệnh B2, chịu trách nhiệm mặt trận phía Đông vô cùng sửng sốt trước sức kháng cự dũng mãnh của quân Nam mà đã khiến cho Sư Đoàn 7 BV thiện chiến bị khựng lại phía sau không tiến lên được. Tướng Tấn lệnh cho Sư Đoàn 341 BV giá nào cũng phải xông qua kháng tuyến Mũ Xanh. Ngày 29.4.1975, Sư Trưởng Trấn lại phải thúc những cậu bé học sinh bộ đội xông vào. Hai bên quầng nhau hơn hai tiếng đồng hồ, binh đội Bắc Việt lại vẫn phải cuốn vó chạy lui. Sau hai ngày giao tranh, Trung Tá Bình và chiến sĩ của ông cũng đã trả được ít nhiều mối hận ngoài Quân Khu 1 trong những ngày cuối tháng 3.1975.

    Nhưng niềm vui của chiến thắng không kéo dài được lâu. Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH ra lệnh Lữ Đoàn 369 triệt thoái ra khỏi Hố Nai hành quân về bảo vệ Biên Hòa và Long Bình. Nghĩa Quân và Nhân Dân Tự Vệ Hố Nai không chịu triệt thoái. Các anh ở lại thề viết trang sử cuối cùng của các anh. Đến khuya ngày 29.4.1975, Hố Nai thất thủ, những người anh hùng vô danh của chúng ta đã đền xong nợ nước. Tổ Quốc muôn đời Tri Ân các anh.

    Trong lúc Thủy Quân Lục Chiến rút về Biên Hòa, thì mặt trận phía Tây Bắc cũng đã lên đến cường độ nóng đỏ nhứt, đến sắt đá cũng phải tan chảy. Sư Đoàn 10 BV, sư đoàn từng tham chiến ở Ban Mê Thuột và Liên Tỉnh Lộ 7B, từng gây chết chóc tang thương cho hàng ngàn đồng bào di tản theo chân các đơn vị Quân Khu 2 hồi trung tuần tháng 3.1975, giờ đây là mũi đột phá chánh ở mặt trận Tây Bắc.

    Ngày 29.4.1975, binh đội của Quân Đoàn 3 Bắc Việt đã tràn ngập Căn Cứ Đồng Dù của Sư Đoàn 25 Bộ Binh VNCH, Sư Đoàn 10 tiến quân về hướng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Các cấp chỉ huy của Trung Tâm Quang Trung đã dùng nhiều chiếc GMC nằm khóa chặt con đường Quốc Lộ 1 để làm chậm bước tiến của địch, các đơn vị cơ hữu của Trung Tâm (lúc này do Thiếu Tướng Trần Bá Di làm Chỉ Huy Trưởng) dũng cảm nồ súng chận địch. Công binh Bắc Việt đã đưa xe tăng lên kéo những chiếc GMC sang hết hai bên đường. Trung Đoàn 24 BV thúc tới.

    Các tân khóa sinh của Trung Tâm với vũ khí yếu kém và trong thời kỳ huấn luyện không thể ngăn chận được cơn nước lũ. Nhưng đến đây người lại gặp người: Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đang chờ đón quân địch tại giao lộ Bà Quẹo. Trong cuộc chiến tranh Việt Nam lần thứ hai 1954-1973, bộ đội Bắc Việt đi B, tức vào Nam thường chuyền tai kể cho nhau những hiểm nguy đang chờ đón họ, rằng chớ nên chạm đến ba món độc Miền Nam: Nhảy Dù, Biệt Cách Dù và B52. Giờ đây các Trung Đoàn 24 BV sẽ đụng độ với một trong ba món độc Miền Nam. Các chiến sĩ Nhảy Dù vừa trở về từ cơn triệt thoái Phan Rang, đang hừng hực ý chí phục hận, dù quân số thiếu hụt và số tân binh bổ sung còn thiếu kinh nghiệm chiến trường, sĩ quan kỳ cựu hao mòn, các anh bố trí trong những cao ốc chung quanh giao lộ.

    Kiên nhẫn chờ cho những thành phần tiền phong của bộ đội đến gần trong tầm nhắm, các chiến sĩ Mũ Đỏ đồng loạt khai hỏa. Ba chiếc thiết xa đi đầu bị bắn cháy, những cột lửa màu cam vỡ bùng cùng với những cột nấm khói đen mù mịt bốc lên. Sư Đoàn 10 BV đã bị Tiểu Đoàn 3 Dù chận đứng.

    Những Thiên Thần Mũ Đỏ

    Trong lúc quân Dù và quân BV còn đang kịch chiến ở Bà Quẹo thì Trung Đoàn 28 BV đã đánh thông được con đường Tỉnh Lộ 15 tiến về phi trường Tân Sơn Nhứt lúc 6 giờ chiều ngày 29.4.1975. Quân địch nhận lệnh dừng, chỉnh đốn quân số và nhận tiếp liệu. Cuộc tấn công phi trường sẽ khởi diễn vào lúc bình minh ngày 30.4.1975. Đến đây, Trung Đoàn 28 BV lại sẽ gặp món độc Miền Nam thứ hai: 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Từ ngày 26.4.1975, Liên Đoàn 81 BCD được trao nhiệm vụ trấn đóng bảo vệ phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH.

    Người hào kiệt chịu trách nhiệm chỉ huy mặt trận là Thiếu Tá Phạm Châu Tài, biệt danh Hổ Xám, Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật của Liên Đoàn 81 BCD (Liên Đoàn có 3 Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật, mỗi bộ chỉ huy có 4 biệt đội, mỗi biệt đội có 200 chiến sĩ). Dưới quyền điều động của Thiếu Tá Tài còn có một thành phần Lôi Hổ trở về từ Pleiku.

     
    Những T54 Bv bị Nhảy Dù bắn cháy ở Bà Quẹo


    Hổ Xám Phạm Châu Tài là một trong những mãnh hổ Mũ Xanh tung hoành trận địa ở An Lộc. Trong một đêm tháng 4.1972, ông cùng các tay súng Biệt Cách đã đánh bật quân cộng ra xa khỏi một nửa phía Bắc thành phố An Lộc mà chúng đã chiếm được mấy ngày trước. Giờ đây ông sẽ viết tiếp trang sử Liên Đoàn 81 BCD bằng những huyền thoại của chính ông.

    Đêm 29.4.1975 sẽ là đêm dài nhứt của các chiến sĩ Biệt Cách Dù, Lôi Hổ và Nhảy Dù đang trấn giữ chung quanh, trong khu vực phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu. Suốt đêm, các chiến sĩ phòng thủ lắng nghe tiếng cánh quạt phành phạch cùng tiếng động cơ ầm ĩ của đoàn trực thăng Hoa Kỳ từ Đệ Thất Hạm Đội bay vào Sài Gòn di tản người Mỹ và nhân viên Việt Nam, cùng những người có giấy tờ nhận cho di tản từ tòa đại sứ Hoa Kỳ.

    Trong màn đêm u ám, từ trên những tòa cao ốc, các chiến sĩ và người dân Sài Gòn có thể nhìn rõ những ánh đèn chớp liên hồi từ những chiếc trực thăng. Mặc dù có tin nhiều chỉ huy cao cấp từ Tổng Tham Mưu Trưởng, đến Tư Lệnh Quân Đoàn III VNCH đều vắng mặt, hầu hết máy bay và tàu chiến đều đã ra khỏi Việt Nam với mục đích tránh để rơi vào tay giặc, quân ta vẫn bình tĩnh giữ vững vị trí thề chiến đấu bảo vệ mảnh đất cuối cùng: Sài Gòn. Nhưng liệu ông Tổng Thống tân nhiệm Dương Văn Minh có được dũng chí làm được công việc phi thường ấy không.

    Trong lúc Quân Đoàn 3 Bắc Việt lập kế hoạch chiếm phi trường và BTTM để làm tê liệt sức chống cự của toàn QLVNCH, Thiếu Tá Tài gọi cho Đại Tá Phan Văn Huấn, Tư Lệnh Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù xin lệnh. Người anh hùng của thời Mùa Hẻ Đỏ Lửa An Lộc ra lệnh: “Nhiều vị tướng lãnh có thể đã ra đi, nhưng chúng ta không thể để đất nước rơi vào tay quân cộng sản, cho dù bất cứ chuyện gì xảy đến, Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù vẫn phải ở vị trí và tiếp tục chiến đấu”. Quân lệnh như sơn. Hổ Xám Phạm Châu Tài tuyệt đối tuân thủ, ông sẽ đánh quân giặc đến giờ thứ 25.

    Lúc 7:15 sáng ngày 30.4.1975, Thiếu Tướng Vũ Lăng, Tư Lệnh Quân Đoàn 3 BV ban lệnh tấn công. Trung Đoàn 24 đã vượt qua được Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù ở Bà Quẹo, cùng đoàn thiết xa ầm ầm tiến về Ngã Tư Bảy Hiền, khí thế mạnh mẽ, hùng hổ tưởng chừng như trời sắp sụp đất sắp lở. 800 tay súng Biệt Cách Dù, Lôi Hổ và một thành phần Nhảy Dù bình tĩnh chong súng chờ đợi. Chiến Đoàn 3 BCD có dồi dào súng phóng hỏa tiễn M72, mà sẽ là thứ vũ khí chết chóc luôn là tử thần đối với chiến xa địch.

    Tiếng bánh xích chiến xa địch đã nghiến rổn rảng trên con đường nhựa thênh thang, tiếng động cơ gầm rú ầm ĩ, đe dọa, lính tùng thiết đi theo sau lúc nhúc như bầy kiến tìm mồi. Kia rồi, hai chiếc thiết giáp địch đã ở trong tầm bắn. Công đầu thuộc về các chiến sĩ Lôi Hổ. Các anh bắn xe tăng địch bằng súng không giật 90 ly, thép nào chịu cho nổi. Nên chiếc thứ nhứt bùng cháy dữ dội. Chiếc T54 thứ hai còn đang loay hoay chưa biết hành động ra sao, thì một quả đạn từ đại bác 90 ly của một chiếc M48 đã nướng cháy nó, khói bốc đen nghìn nghịt. Tuy nhiên, quân số biển người của Sư Đoàn 10 BV tiếp tục thúc tới dưới màn hỏa lực dữ dội từ trên những cao ốc của Lôi Hổ và Nhảy Dù, những đơn vị tiền phong tiến dần đến cổng phi trường, nơi Thiếu Tá Tài đang chờ đợi. Một tiểu đoàn bộ đội được ba chiếc T54 yểm trợ ào ạt tiến vào, để nhận được một trận bão hỏa lực từ Biệt Cách Dù. Trong phút chốc ba chiếc T54 đã bị súng phóng hỏa tiễn M72 hủy diệt.

     

    Đại Tá Phan Văn Huấn

    Nếu quân cộng từng dùng CKC bắn tỉa quân ta, thì giờ đây những tay súng tuyệt kỹ của Biệt Cách Dù cũng bắn tỉa được nhiều lính cộng. Tổ súng nặng của quân cộng vội thiết trí súng phòng không 85 ly bắn trực xạ vào quân Mũ Xanh. Các tay súng 81 BCD đã hủy diệt ngay tổ phòng không ấy, thậm chí súng còn chưa kịp hạ nòng bắn viên đầu tiên. Một tiểu đoàn thứ hai cùng tám chiếc T54 xông vào. Những chiếc A37 còn lại của Không Quân VNCH từ Cần Thơ bay lên đánh bom nổ tung 2 chiếc T54.

    Lúc 10 giờ sáng, chỉ nửa tiếng sau toàn dân Miền Nam sẽ được nghe hiệu triệu của Tướng Minh, trong lúc quân cộng tiếp tục ủi vào cổng phi trường, những chiếc M72 bắn hạ thêm hai chiếc nữa. Một chiếc thứ ba xoay bánh xích ken két đánh một vòng muốn bọc hông, cũng bị M72 bắn cháy luôn. Tổng cộng có sáu chiếc T54 nằm rải rác trước cổng phi trường. Thiếu Tá Tài đã buộc Sư Đoàn 10 BV thất vọng vì không hoàn thành kế hoạch làm tê liệt sức kháng cự của QLVNCH, phải khựng lại không tiến lên được.

    Cùng thời điểm đó, người hào kiệt Vương Mộng Long và Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân còn đang quần thảo với Quân Đoàn 2 BV ở Căn Cứ Nước Trong, sau khi triệt thoái từ Xuân Lộc về. Từ Quảng Đức với 410 chiến sĩ rút về Quân Khu 3 trong những ngày tháng 3.1975, giờ đây Thiếu Tá Long chỉ còn có 60 chiến sĩ và 4 sĩ quan sống sót. Nhưng khi đoàn quân này vượt cầu Tân Cảng tìm về Sài Gòn thì rơi vào bẫy phục kích của giặc. Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân bị xóa tên, nhưng Thiếu Tá Long may mắn thoát được cùng vài chiến sĩ

     

    Chiến sĩ Biệt Động Quân đánh địch

    Vận nước đã đến lúc suy vong. Nửa giờ sau, từ những chiếc máy thu thanh nhỏ, lúc 10:30 sáng, quân phòng thủ phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu đã tức uất nghe được lệnh “các chiến sĩ hãy buông súng, ai ở đâu ở đó chờ quân giải phóng đến bàn giao”. Có nghĩa là buông súng đầu hàng. Thiếu Tá Tài đi vào Bộ Tổng Tham Mưu hy vọng tìm gặp vài viên chức cao cấp nào đó, để chỉ thấy những phòng ốc hoang vắng thê lương. Tuy nhiên điện thoại vẫn còn hoạt động được, Thiếu Tá Tài gọi vào Dinh Tổng Thống. Trả lời đầu dây là Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người được Tổng Thống Minh bổ nhiệm làm Tổng Tham Mưu Trưởng. Thiếu Tá Tài xin được nói chuyện với Tổng Thống.

    Được ông Minh tiếp chuyện, Thiếu Tá Tài tự giới thiệu tên, cấp bậc, chức vụ rồi xin lệnh. Tướng Minh bảo Thiếu Tá Tài hãy sửa soạn đầu hàng, ông cho biết xe tăng quân cộng đang trên đường đến Dinh Độc lập. Thiếu Tá Tài nói: “Nếu xe tăng Việt cộng vào Dinh Độc Lập chúng tôi sẽ đến cứu Tổng Thống”. Ôi, còn những lời nào cao cả, hào hùng và bi thiết hơn nữa không từ một người chiến sĩ đã dâng hết thời thanh xuân của mình cho đất nước. Giờ đây, trách nhiệm cuối cùng của ông là bảo vệ vị nguyên thủ quốc gia tránh sự nhục nhã của một tù binh chiến tranh. Hết sức sửng sốt và cảm động, ông Minh từ tốn trả lời: “Không cần đâu em”. Thiếu Tá Tài chỉ còn nghe có tiếng vo vo buồn bã trong ống liên hợp. Lúc 11:30 sáng, những chiếc dép râu tiến vào phi trường và Bộ Tổng Tham Mưu.

    Thiếu Sinh Quân VNCH: Những Trần Quốc Toản thời lửa binh


    Thế là hết. Những chiến sĩ Lôi Hổ, Nhảy Dù Bộ Chỉ Huy 3 Chiến Thuật Biệt Cách Nhảy Dù ngậm ngùi bắt tay từ giã nhau. Một nhóm 7 chiến sĩ Mũ Đỏ Dù, trong đó có một ông Thầy Thiếu Úy, ngồi thành vòng tròn ở gần Ngã Tư Bảy Hiền nhìn nhau gật đầu chào vĩnh biệt. Một trái lựu đạn lăn giữa vòng nổ tung, những mảnh áo màu hoa rừng đẫm máu tung bay tơi bời lên thinh không.

    Buổi trưa ấy, đột nhiên bầu trời tối sầm, mây đen sa xuống thấp đến nỗi những con người Sài Gòn đang ngơ ngác, ủ rủ cảm nhận được những luồng hơi nước lạnh giá. Từ trong cõi xám mờ mịt dậy lên những tiếng sấm động ùng oàng, liên miên, bất tận như truy điệu cái chết của Việt Nam Cộng Hòa. Cơn mưa đầu mùa tầm tả ầm ầm trút xuống một màn nước trắng xóa phủ lên thành phố đang hấp hối.
    Nhưng đối với Thiếu Tá Trần Đình Tự và Tiểu Đoàn 38 Biệt Động Quân đang hành quân ở Củ Chi, Hậu Nghĩa, cuộc chiến vẫn tiếp diễn.

    Cùng với 90 chiến sĩ Mũ Nâu quyết theo ông đến phút cuối cùng, Thiếu Tá Tự bất tuân lệnh buông súng tiếp tục đánh cho đến lúc toàn quân sa vào tay giặc. Cấp chỉ huy địch buộc Thiếu Tá Tự cởi quân phục đầu hàng, ông cương quyết từ chối. Viên chỉ huy địch giận dữ rút súng bắn vào đầu ông. (Một tài liệu khác viết rằng, chỉ huy du kích Củ Chi trói Thiếu Tá Tự vào cột rồi dùng dao găm mổ bụng ông). Ôi, còn nỗi bi thương nào hơn thế không?

     Thương nhưng không phế: vẫn chiến phục hào hùng


    Buổi chiều ngày 30.4.1975, những chiến sĩ nhỏ bé Thiếu Sinh Quân ở Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu sau khi cầm cự suốt nửa ngày đành cam chịu buông súng. Nhưng những người chiến sĩ hậu duệ Trần Quốc Toản ấy đã trân trọng làm lễ Hạ Kỳ Quốc Gia, xếp lại Lá Cờ Vàng Việt Nam thiêng liêng, rồi u sầu chia tay nhau. Năm vị thần tướng Nước Nam không chịu khuất phục quân giặc đã tuẫn tiết:

    Thiếu Tướng Phạm Văn Phú uống thuốc độc; Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam bắn súng vào đầu; Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng bắn súng vào tim; Chuẩn Tướng Trần Văn Hai uống thuốc độc; Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ tự sát bằng súng. Trước bức tượng Thủy Quân Lục Chiến ở bùng binh Quốc Hội, Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long tử tiết bằng súng, chiếc nón của người anh hùng ấp ủ trên ngực ông. Ngày hôm sau, cựu Ngoại Trưởng Trần Chánh Thành tuẫn tiết tại nhà. Và còn nhiều nữa rất nhiều chiến sĩ mọi binh chủng, mọi cấp bậc không cam chịu nhục hàng giặc, anh linh đã cùng đi vào cõi thiên thu.

    Sang ngày 1.5.1975, tiếng súng vẫn còn nổ ở Tiểu Khu Chương Thiện, Đại Tá Tỉnh Trưởng Hồ Ngọc Cẩn khi không còn gì để chiến đấu, ông điềm tĩnh chờ giặc vào trói ông. Người bạn cùng khóa 2 Hiện Dịch Đồng Đế với ông, Trung Tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng Kiên Long, cũng đánh đến cùng và bị bắt. Hai người anh hùng cuối cùng này của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ bị đem xử bắn ở vận động trường Cần Thơ vào ngày 14. 8.1975.

    Những vị Thần Tướng Nước Nam đã thăng thiên cùng anh linh hai trăm ngàn chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong hai mươi năm đấu tranh bảo quốc, ba trăm ngàn chiến sĩ thương phế sống vất vưởng ngoài lề đất nước từ ngày 30.4.1975, đến nay là đã gần nửa thế kỷ. Nhưng có phải những người anh hùng ấy đã hoàn toàn bị quên lãng trong lòng dân tộc rồi chăng. Một cô em nữ sinh hậu phương ở Sài Gòn, cô Dương Thị Sớm Mai (hiện cư ngụ ở thành phố Ottawa, Canada) đã nói thay cho tình cảm của dân chúng Miền Nam dành cho NHỮNG NGƯỜI LÍNH QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA:

    Buổi trưa ngày 30 tháng 4.1975 Ba tôi vừa khóc vừa nói với anh em tôi rằng: “Mình đã sống bình yên, hạnh phúc cho đến này hôm nay là do công giữ nước, giữ đất của Những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, không phải chỉ bằng mồ hôi nước mắt, mà còn bằng máu của các anh, bằng sự mất mát của gia đình các anh, bằng tất cả cuộc đời của các anh… Nhiều lắm, mình không trả nổi công ơn đó”.
    Cuộc chiến này dù đã kết thúc như thế nào, người dân Miền Nam Việt Nam vẫn cúi đầu ghi nhớ công ơn các anh, sự hy sinh cao cả của các anh, bởi trên từng tấc đất mà họ đang sống đều được đấp bồi bằng máu của những người như các anh đã không sống hết tuổi thanh xuân của mình.

    Dương Thị Sớm Mai
    PHẠM PHONG DINH
    Nguồn: Cảm ơn Mr. PPD chuyển

     *******

    Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian.

     LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ “DŨNG SĨ” ĐẤT CỦ CHI

    DƯƠNG ĐÌNH LÔI


     
    LÁ THƯ GỞI CHO MỘT NỮ “DŨNG SĨ” ĐẤT CỦ CHI

     DƯƠNG ĐÌNH LÔI

     Hoa Kỳ, ngày 24 tháng 8 năm 1991

     Em Bảy Mô thân mến,

     Bất ngờ anh bắt gặp một quyển sách tiếng Anh viết về địa đạo Củ Chi trong đó có đề cập tới em và hình em nữa. Xem xong quyển sách này anh cười phì vì nó hài hước và bịp bợm quá lẽ, anh không muốn nêu tên sách và tác giả ra đây vì họ không đáng cho anh gọi là nhà văn, mà họ chỉ đáng được gọi là những thằng bịp. Nếu em đọc được tiếng Ăng-Lê thì anh sẽ tìm cách gởi về cho em xem. Và chắc em sẽ có cảm tưởng rằng tác giả của quyển sách nói về một chuyện giả tưởng trên mặt trăng hoặc dưới đáy biển. Anh tự hỏi tại sao tác giả quá ngây ngô để bị lừa một cách dễ dàng rồi trở lại lừa độc giả của họ một cách vô lương như thế. Nhưng cho dù họ bịp được toàn nhân loại đi nữa, họ cũng không lừa được anh và em., những kẻ đã từng đổ mồ hôi và máu trên mảnh đất này. Riêng anh thì đã tử thủ mặt trận: Hai ngàn ngày đêm, không vắng mặt chút nào. Để nói cho độc giả biết rằng bọn Cộng Sản đã bày trò bịp thế gian một lần nữa, sau vụ đường mòn xương trắng và khuyên những người nhẹ dạ chớ có mắc lừa, anh quyết định viết quyển sách này.

     Họ bảo rằng bề dài địa đạo là hai trăm dậm. Em có tin không ? Sự thực Củ Chi có mấy khúc địa đạo còn tạm xài được trước khi Mỹ vô (1964) ? Quận Củ Chi là một quận nhỏ gồm mươi lăm xã cách Sài gòn hai chục cây số đường chim bay, nhưng nó là cửa ngỏ đi vào Sài gòn cho nên có hai bên Quốc Gia lẫn Cộng Sản đều tử chiến ở đây, một chiến trường khốc liệt nhất Miền Nam trong cuộc chiến tranh lần thứ hai của nước ta. Nếu tính bề châu vi thì quận Củ Chi đo được chừng năm mươi cây số. Như vậy bề dài của địa đạo ít nhất bốn lần chu vi Củ Chi. Họ còn viết rằng địa đạo đã lập thành một vòng đai thép bao quanh căn cứ Đồng Dù và người cán bộ mặt trận có thể ở dưới địa đạo nghe nhạc đang đánh ở trên căn cứ này. Cụ thể là ông Năm Phạm Sang ngồi đàn dưới địa đạo mà nghe Bob Hope diễn kịch ở trên đầu hắn.

     Quyển sách ma này nói láo, nói bậy hoặc nói nhầm hầu hết về những gì đã xảy ra ở Củ Chi trong vòng năm năm (1965-1970) anh và em có mặt ở đó. Nhưng ở đây anh chỉ nhặt ra vài ba điểm quá ư ngu xuẩn của tác giả mà một người đã dám cầm bút viết nên sách dù kém tài đến đâu cũng không thể có được . Ví dụ họ viết rằng anh Tám Lê và vợ là Thị Thắm mổ xẻ thương binh dưới địa đạo. Xin hỏi: “Làm cách nào để đem thương binh xuống đó ? ” Nên biết rằng miệng địa đạo chỉ hẹp bằng cái khay trầu thôi. Người thường tuột xuống đó còn phải lách chứ không dễ dàng. Thương binh, nếu nặng thì nằm trên cáng, còn nhẹ thì băng bó đầy mình làm sao tụt xuống được? Và nếu có tụt xuống được thì nằm ở đâu, dụng cụ gì, đèn đóm nào dùng cho cuộc giải phẫu. Đó là chưa nói đến cái không khí ác độc ở dưới địa đạo. Người khỏe mạnh bất đắc dĩ phải xuống địa đạo thì chỉ trong vài tiếng đồng hồ là đã mệt ngất ngư rồi: vì không đủ dưỡng khí! Nếu bị kẹt vài giờ dưới đó thì con người đã trở thành miếng giẻ rách, còn khi bò lên được thì đã quên hết tên họ mình. Vậy sau khi được giải phẫu, thương binh phải sống dưới đó làm sao? Đó là chưa kể những việc lặt vặt khác như thương binh phóng uế hoặc thủ tiêu những băng đầy máu me. Những người chưa từng ở địa đạo nghe mấy vị này mô tả chắc sẽ nghĩ rằng cuộc sống dưới địa đạo khỏe khoắn như ở trong nhà lầu có máy điều hòa không khí. Xin thưa câu chuyện không đẹp tai cho lắm: Một lần nọ khi chui xuống địa đạo chúng tôi bị quân Việt Nam Cộng hòa chốt trên đầu không lên được. Rủi thay một nữ cán bộ có đường kinh. Nếu ở trên mặt đất thì dù không kịp dùng băng vệ sinh người đàn bà vẫn không toát ra mùi gì (xin lỗi) nhưng ở dưới địa đạo gặp trường hợp này mọi người đều ngặt mình như sắp chết vì cái mùi uế tạp kia. Người chưa từng ở địa đạo không thể biết rằng đánh một cái rắm dưới đó chẳng khác nào bỏ một trái bom nguyên tử.

     Vậy ông anh hùng Tám Lê có lẽ là một Tề Thiên Đại Thánh mới có thể biến thương binh nhỏ lại bằng cái tăm để đem xuống địa đạo và nhổ lông khỉ của mình biến thành dụng cụ đèn đóm để giải phẫu chăng ? Ông Tám Lê quân y sĩ giải phẫu thương binh thì có, nhưng bảo rằng ông ta giải phẫu thương binh dưới địa đạo là một chuyện nói láo bỏ sách vở và coi khoa học là một bãi phân chuồng cũng như ông đại tướng bần cố nông Nguyễn Chí Thanh đem hầm đất ra chống B52 để rồi bị chết thảm thương như vậy. Sức khoan phá của một quả bom đìa là mười một thước bề sâu.

     Đây anh xin nhắc lại một câu chuyện mà hai anh em mình cùng chứng kiến: Lần đó anh bị thương miểng đạn M79, em và tổ nữ “dũng sĩ” của em đưa anh vào quân y của ông Tám Lê. Vừa tới nơi anh hết sức ngạc nhiên vì thấy một toán bộ đội rượt đánh hai vợ chồng Tám Lê chạy bò càn trong rừng. Kể cũng tội cho ông. Tiểu đoàn Quyết Thắng đánh ở Lộ 6 Gò Nổi bị thương nhiều quá. Chờ đến sáng mới đem thương binh về tới Rừng Lộc Thuận tức là căn cứ của ông Tám Lê thì bị ông từ chối. May có anh ở đó, anh rầy lính tráng và năn nỉ Tám Lê rán giúp dùm, hòa giải xích mích.

     Năm 1967, trong cuộc càn Cedar Falls của Mỹ anh phải điều động một đại đội tới khiêng thương binh chạy dưới mưa bom B52 sau trận đánh Cây Trắc đường I làng Phú Hoà Đông về tới Bến Chùa. Trên một trăm thương binh nằm dầy đặc một khu rừng như củi mục. Tiếng la ó, rên rỉ, chửi bới vang trời. Thương binh nằm phơi bụng dưới bóng cây. Những người may mắn thì được đặt dưới hầm giống như cái huyệt cạn, chờ họ chết là lấp đất rất gọn gàng chứ nào xuống được địa đạo địa điếc gì.

     Chiến dịch đó vô cùng khủng khiếp phải không em? Nội vùng tam giác sắt trong vòng một tháng có đến 576 cán binh ra hồi chánh. Nếu có địa đạo như kiểu ông tác giả trên nói thì họ cứ rút xuống đó ăn hút chừng nào Mỹ đi thì bò lên chống Mỹ, lựa là hồi chánh chi cho mệt phải không em?

     Những người chưa hề đào một tấc địa đạo nào cứ tưởng rằng đào địa đạo dễ như đào hang bắt chuột vậy. Đào một chốc là có cả chục thước ngay. Than ôi! Nào phải như vậy. Những vùng đất có thể đào địa đạo được phải là vùng đất cao để không bị ngập nước và đất phải cứng để không bị sụp lở cho nên đào một thước địa đạo phải hộc ra máu cục, phải mờ cả con mắt chứ đâu có dễ như ông tác giả vẽ trên giấy. Củ Chi có mười lăm xã, nhưng chỉ có năm xã đào được địa đạo mà thôi. Đó là các xã: Phú Mỹ Hưng, Anh Phú, An Nhơn, Nhuận Đức và Phú Hoà. Năm xã này nằm dọc theo bờ sông Sàigon, có lớp đất cao có thể trồng cây cao su mới đào được địa đạo. Ngoài ra mười xã kia là đồng ruộng làm hầm bí mật đã khó rồi.

     Anh và em đã từng đào nên từng biết mỗi tấc địa đạo phải tưới bao nhiêu mồ hôi. Mười thanh niên khoẻ mạnh đào trong một đêm chỉ được chừng vài thước là cùng. Vậy muốn hoàn thành hai trăm dậm địa đạo phải mất bao nhiêu công? Và họ đào ở đâu, lúc nào mà được hai trăm miles. Ông tác giả lại còn phịa ra những chuyện ly kỳ là: địa đạo hai tầng (như nhà lầu) và dưới đáy địa đạo lại có giếng để múc nước (nấu nước trà uống chắc!). Chưa hết, ông ta lại còn bịa thêm rằng dưới địa đạo có kho chứa hàng, có nơi nghỉ ngơỉ, có chỗ chứa thương binh, và còn tài ba hơn nữa, tài nói láo, lại còn có bếp Hoàng Cầm theo kiểu Điện Biên Phủ (có đường dẫn khói luồng trong đất) và nào là đường địa đạo thông ra bờ sông Sàigon…?

     Đây là một chuyện phản khoa học tại sao họ có thể viết được. Muốn cho một làn địa đạo có thể chui ra chui vào được và không sợ xe tăng cán sập thì nóc địa đạo phải cách mặt đất ít nhất chín tấc tây nghĩa là khỏi rễ cây ăn luồng, lòng địa đạo phải cao chín tấc và hình chóp nón nghĩa là đáy rộng chín tấc, nóc chỉ bảy, tám tấc, nếu địa đạo rộng hơn sẽ bi lở, sụp. Đôi khi rễ cây làm trở ngại rất nhiều, chặt đứt một cái rễ cây bằng cườm tay phải mất cả giờ đồng hồ. Như vậy muốn đào tầng địa đạo thứ hai ở dưới địa đạo thứ nhất phải theo công thức trên nghĩa là phải đào sâu xuống một mét tám tấc nữa rồi mới trổ ngang đào lòng địa đạo cao chín tấc. Như vậy từ mặt đất xuống tới đáy địa đạo thứ hai phải là : chín tấc cho nóc địa đạo I, chín tấc cho lòng địa đạo I, chín tấc cho nóc địa đạo II, chín tấc cho lòng địa đạo II, tổng cộng là ba mét sáu tấc. Tôi nói chi li ra như vậy để thấy rằng sự đào địa đạo không có dễ dàng, đơn sơ như ông tác giả kia tưởng tượng hoặc đã được Võ Văn Kiệt cho xem những hầm đào bằng máy để khoe với các ông ký giả ngây thơ. Nên nhớ rằng đào đất cứng dưới hầm nó khó khăn như gọt gỗ lim chớ không phải giang thẳng cánh mà cuốc như trên mặt đất.

    Em đã từng đào địa đạo chung với anh, nhưng em nhớ lại thử xem chúng ta đã xuống đó bao nhiêu lần và mỗi lần ở dưới đó mấy giờ đồng hồ, ngoại trừ lần anh chết ngạt ở địa đạo Bến Mương khi anh được lôi lên, cô y tá Thu ở H6 ban Pháo Binh phải cứu cấp anh bằng nước tiểu. Anh không thể tưởng tượng được rằng họ đã bịa đặt đến thế được.

    Em Mô thân mến,

    Thời kỳ kháng chiến chống Pháp em chưa ra đời, nhưng anh đã đi bộ đội. Năm 1950, anh xuống Miền Tây để học trường Lục Quân. ở dưới đó anh cũng bị mê hoặc về những đường địa đạo chống giặc ở quê nhà : Nào là cả làng, cả nhiều làng xuống địa đạo. Hơn nữa, dân lùa cả trâu bò xuống địa đạo, giặc Pháp có biết được miệng hầm cũng không làm gì nổi. Ra Hà Nội, anh có gặp anh hùng Nguyễn Văn Song. Anh ta trở thành anh hùng quân đội với huyền thoại “Với một chiếc lưỡi hái cùn, anh ta đã đào hàng ngàn thước địa đạo và cất giấu cả tiểu đoàn. ” Anh vẫn tin như thế. Và cho tới khi đặt chân trở lại Củ Chi năm 1965 anh vẫn còn tin như thế. Nhưng chỉ sau khi đi với em đào một đêm, thì anh mới dội ngửa ra. Anh nghĩ rằng với cái liềm cùn đó, anh Song phải chết đi sống lại mười lần mới có thể đào xong hàng ngàn thước địa đạo kể trên. Anh Song ra Bắc ở Sư Đoàn 338, trốn về Nam rồi biệt tích.

    Tác giả quyển sách này đã không biết rằng từ sau khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam ta, hầm bí mật và địa đạo ở Củ Chi nói riêng và ở khu IV nói chung hoàn toàn mất tác dụng. Anh nhắc lại em nghe, nếu em quên, hồi đầu năm 1967, Mỹ mở một cuộc càn lớn vô An Nhơn. B52 vùi lấp cả một khúc địa đạo gần xóm trại Bà Huệ. Những kẻ sống sót không biết đâu mà moi móc, đành để nguyên như thế cho các nạn nhân yên lòng nơi chín sưối với nấm mồ tập thể trên hai chục người của văn phòng Tham Mưu quận.

     Sau đó, một cuộc hội nghị Tham mưu gồm có Tư Hải, Sáu Phấn ở H6 và tiểu đoàn 8 Pháo Binh, bàn việc vận tải hỏa tiễn HI2/ĐKB để pháo kích Đồng Dù. Biệt kích tìm được miệng địa đạo, quăng lưu đạn chết không còn một mống. May mắn lần đó anh bận họp chấn chỉnh tiểu đoàn, nếu không, anh đến họp thì đã tiêu tùng rồi.

    Còn ở Bến Súc, tại bờ Rạch Xuy Nô, biệt kích Mỹ tìm ra miệng địa đạo của Ban Mật Mã điện đài Quân Khu. Chúng tóm trọn ổ trên hai chục mạng, lấy vô số tài liệu và hai chiếc máy thông tin.

     Kể từ đó địa đạo trở thành nỗi sợ hãi khủng khiếp đối với cán bộ và bộ đội. Ông Trần Đình Xu, tức Ba Định, Tư lệnh Quân Khu thấy tình hình giao động của cán bộ, bộ đội nên đã ra lệnh cho bộ đội không được xuống địa đạo nữa. Vì xuống dưới đó là bị động hoàn toàn không còn tinh thần đâu mà chiến đấu nữa. Kẻ nào bất tuân sẽ bị kỷ luật nặng.

     Tuy ra lệnh gắt gao như vậy nhưng chính ông trong lúc cùng đường mạt lộ ông cùng ban tham mưu khu cũng phải chui xuống địa đạo. Chẳng may, Mỹ đóng chốt trên đầu. Cô Là, xã đội phó Phú Mỹ Hưng chạy vắt giò lên Trảng Cỏ tìm anh và yêu cầu anh đem quân về đánh giải vây cho ông ở Bàu Đưng. Nếu không có anh lần đó ông và cả ban tham mưu đã an giấc ngàn thu dưới lòng đất rồi. Nhưng thoát chết kỳ đó, sau mấy tháng, ông lại đạp mìn mà tan xác với chức Thứ trưởng Quốc phòng của Chánh phủ ông Phát.

    Trong những người “anh hùng” mà ông tác giả kể ra, có ông “Thiếu tá Năm Thuận” nguyên là một tên du kích sọc dưa đã bỏ làng chạy qua Phú An (Bình Dương) để làm nghề câu tôm chờ ngày rước vợ ở Ấp Chiến Lược ra sống chung. Ông “Thiếu tá” này đã giác ngộ cách mạng cao nên đã trở lại Tiểu đoàn II thuộc Trung đoàn Quyết Thắng của anh. Lúc đó quân số Tiểu đoàn chỉ còn trên một đại đội nên Thuận mừng húm khi được anh nhận cho làm lính lãi.

    Bên cạnh đó còn có một ông thiếu tá khác đặc sắc hơn. Đó là “Thiếu Tá Quợt” chính ông này bị B52 vùi lấp còn ló cổ lên và chính anh với em cứu sống ở rừng Bàu Nổ xã Thanh Tuyền. Ông ta chưa hề đào một nhát cuốc địa đạo thế mà được ông tác giả đề cao là “Anh hùng đã chiến đấu mười năm ở Củ Chi bằng địa đạo.” Chiến đấu bằng cách nào? Cái ông này nổi tiếng nhờ cái tật ỉa chảy và mang chứng binh mắc thằng bố nói nhãm kinh niên, người xanh mét gầy nhom như khỉ già, ngồi đâu chết đó. Mỗi lần xuống hầm hoặc xuống địa đạo là ông ta són trong quần. Mọi người rất sợ phải chui chung với ông.

     Còn nhân vật “chiến đấu” dũng cảm hơn hết. Đó là ông Võ văn Kiệt, tức là Tư Kiệt Chính ủy Quân khu. Ông được Năm Ngố bí thư Huyện ủy Nam Chi nhường cho một khúc địa đạo để nương náu qua ngày tại Phú Hòa Đông. Nhắc tới việc này, chắc em không khỏi nhớ tới em Lệ tức Tám Lệ, một nữ công tác thành của Ban Quân báo quân khu.

     Lệ thường ra vào Sài gòn, Tây Ninh… và về báo cáo các công tác, ăn ở nhờ địa đạo của ông Năm Ngô. Do đó Lệ lọt vào mắt ông Chính ủy khu. Ông ta bèn biến cô Lệ thành liên lạc riêng của ông ta, rồi trở thành “bạn ” thân thiết dưới địa đạo. Chuyện này chắc em không biết đâu. Để chốc nữa anh nói lý do tại sao anh biết cái chuyện ly kỳ này.

     Em MÔ thân mến,

     Anh hiện nay là kẻ lưu vong, lòng luôn luôn hướng về đất nước . Nhưng không bao giờ mơ trở về đất nước, họa chăng có một biến thiên vĩ đại bất ngờ. Viết đến đây anh không cầm được nước mắt. Nếu như anh với em có duyên phần với nhau nhỉ? Nếu thế thì cuộc đời chúng mình sẽ không biết ra sao…

     Thôi chuyện đã qua lâu rồi. Em đã có chồng có con cả bầy, còn anh cũng sắp sữa làm ông nội. Nhưng những kỷ niệm lửa máu thật khó quên. Anh không khỏi xót xa ngậm ngùi khi nhìn thấy hình em trên trang sách. Sao trông em sầu não tang thương quá đổi. Có chuyện gì không vui trong đời em sao vậy? Đôi mắt buồn thảm của em đang ngó tới nhưng chính tâm tư của em lại nhìn ngược về dĩ vãng xa vời phải không ? Một cái dĩ vãng còn loe lói trong đầu một đứa con gái mười tám tuổi được tặng danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ” toàn Miền Nam và cô nữ “Dũng sĩ” ấy đã yêu một chàng .. nhưng chuyện lại không thành mặc dù cả hai người vẫn yêu nhau.

     Có một lần ở đâu đó trên đất Củ Chi rực lửa vào một buổi chiều, anh có nói với em một câu và trước đó em đã tặng anh một bài thơ lục bát. Đến nay anh còn nhớ bài thơ này. Anh vốn là một người nhận được rất nhiều tình yêu, từ Hà Nội đến Mã Đà, từ Suối Cụt, suối Tha La đến Củ Chi Trảng Bàng nhưng để rồi chẳng giữ được mối tình nào cả. Bởi vì anh đâu có đứng lại lâu ở một nơi nào để mà nhận lấy. Cái chết đối với anh như bỡn như đùa. Đánh cả trăm trận, bị thương ngót chục lần, chết đi sống lại vài ba lượt. Cái Tiểu đoàn mà anh chỉ huy đã mất ít nhất là ba Tiểu đoàn trưởng. Anh là người thứ tư. Nhưng anh là kẻ “thọ” nhất trong các vị Chỉ huy và với anh, nó được mệnh danh là Tiểu đoàn Thép. Bây giờ nhớ lại anh mới thấy rằng cả anh lẫn em đều bị bọn Bắc Kỳ lợi dụng mà không biết. Chúng thí mình như những con chốt lót đường.

     Chiến thắng xong rồi, dân Nam kỳ mình được gì ?

     Là một người dân lưu vong anh hằng mong đất nước phồn vinh, dân tộc Tự do và những bạn bè cũ của anh, trong đó có em, được hạnh phúc. Nếu như không nhìn nét mặt của em trong sách thì anh đã có thể quên hết Hai Ngàn Ngày Đêm Trấn Thủ Củ Chi của anh, nhưng khổ nổi là anh đã gặp lại em quá ư đột ngột.

     Anh đã có lần nói với em về Lệ rồi. Lệ yêu anh cũng đột ngột như em. Rồi xa anh cũng đột ngột như em xa anh vậy. Lệ làm liên lạc thành rồi bị ông Tư Kiệt bắt về làm thư ký cho ông ta. Thủ trưởng và nhân viên lại ở chung một hầm. Ông ta quá ư ẩu tả. Để đề phòng việc tệ hại nhất rất có thể xảy ra, Lệ đã dùng giấy pơ luya để bịt cửa mình. Lệ đã nói hết với anh ở Suối Cụt. Lúc đó anh cũng đã chán nản trước tình hình càng ngày càng xấu ra. Lệ bảo thật với anh đây là lần gặp anh cuối cùng. Và Lệ đã cùng anh sống một đêm vợ chồng bên bờ suối… Một trái pháo mồ côi đã nổ rất gần lều, suýt chút nữa là hai đứa rửa chân lên bàn thờ. Hôm sau Lệ đi công tác và không về nữa.

     Chuyện Lệ đi, dù anh biết trước nhưng không cản ngăn một lời. Ông ta đã thế thì nàng phải thế. Và anh nữa, anh cũng phải thế. Chứ còn biết làm thế nào ? Anh nói vậy chắc em hiểu mà. Và từ chuyện này em hiểu ra những chuyện khác.

     Sau khi Lệ đi rất lâu, em theo du kích quận đánh đồn Thái Mỹ. Trước khi xuất quân, đáng lẽ em phải hỏi ý kiến “Tiểu đoàn trưởng ” chứ. Nhưng em đã đi đánh liều. Nghe súng trận nổ anh lập tức dắt tổ trinh sát chạy đến. Cũng vừa lúc du kích võng em về. Anh đã biết trước các em không đánh nổi mà. Anh chỉ còn biết băng vết thương trên ngực của em bằng tấm áo của anh và cả tấm lòng xót xa quặn thắt của anh nữa. Ngày nay mỗi lần nhìn tại vết sẹo trên da thịt em, chắc em nhớ lại lúc băng bó cho em, anh đã nói với em câu gì.

     Sau đó ít lâu anh nghe tin em bị du kích Bàu Me ở Trảng Bàng bắt trói vì em đang mang AK trên đường ra Ấp Chiến Lược hồi chánh. (thì cũng như anh hùng Nguyễn văn Song trốn về Nam.) Thế nhưng trong chương sách kể lể chiến công của “Nữ dũng sĩ gan góc” Bảy Mô ông tác giả đã giao cho nàng một “Công tác quan trọng ở vùng biên giới Việt Miên” cho đến khi hòa bình.

     Đúng ra, em có đi công tác ở biên giới thật, nhưng là công tác cấp dưỡng đặc biệt cho Bà Phó Tư lệnh Ba Định. (Vì là một “Dũng sĩ” nên du kích không dám đụng tới em, chứ nếu là ai khác thì chúng đã bắn chết ngay rồi.) Chuyện Củ Chi dài quá em nhỉ! Định ngưng mấy lần nhưng ngưng chưa được.

     Còn một ông anh hùng khác cũng bị nêu tên trong sách này. Đó là Nguyễn Thành Linh. Một tên Bắc Kỳ vô Củ Chi và chiến đấu bằng địa đạo trong vòng năm năm liền. Hắn được tác giả mô tả như một kiến trúc sư của địa đạo chiến. Vậy ra trước khi hắn vác mặt vô đây, dân Củ Chi không biết đào hầm hố hết? Nhưng địa đạo hay hầm bí mật đâu cần phải kiến trúc sư mới làm được. Cuộc sinh tồn mọi người đẻ ra sáng kiến để tự bảo vệ thôi:Anh ở Củ Chi năm năm có thấy tên nào Nguyễn Thành Linh đâu! Nhưng anh biết hầu hết tất cả địa đạo Củ Chi. Chỗ nào anh cũng biết miệng địa đạo, hoặc đã xuống địa đạo thử trước rồi. Anh đã lội nát Củ Chi không sót một mảnh rừng nào mà. Tất cả những tên làng, tên ấp tên người trong quyển sách này là thật. Đây là sự trần truồng không tiểu thuyết hóa một chút nào. Anh có thể điểm qua tất cả địa đạo trong quận Củ Chi cho em nghe: Bến Dược 200m, đồn điền Sinna 500m, Hố Bò 200m, Phú Hòa 200m, Lộc Thuận 200m. Gần đồn điền Sinna 150m, Trà Dơi 150m, Xóm Trại Giàn Bầu 100m, Xóm Bàu Hưng 300m, Xóm Thuốc 200m, 200m, Xóm Chùa 200m, ấp Bến Mương 100m, Góc Chàng 500m, Cây Điệp 150m, Nhuận Đức 100m, 100m, Bầu Tròn 100m. Bào Cạp 100m, 50m, Bầu Diều 100m, Ba Gia 100m, Bên Cỏ 100m, Đường làng II 100m, 50m. Hoàn toàn không có cái vòng đai sắt nào chung quanh hoặc dưới đít Đồng Dù cả. Ông Phạm Sang chỉ có thể nghe Bob Hope hát ở Đồng Dù từ trong hang ếch của ông ta và trong trí tưởng tượng thôi.

     Sở dĩ có danh từ vòng đai thép bao bọc Đồng Dù, như em đã biết là do ông Tám Quang, trưởng phòng chính tri quân khu bịa báo cáo về R cùng với sự thành lập đội nữ du kích Củ Chi của tụi em với Bảy Nê, Út Nhớ chẳng qua để quay phim, chụp hình và đài giải phóng tuyên truyền mà em đã cười khi ngồi tâm sự với anh lúc mới quen nhau. Chớ đội nữ có đánh chát cái gì. Toàn do ông Tám Quang sáng tác và đài giải phóng phóng đại.

     Nếu như có một hệ thống địa đạo Củ Chi thôn liền thôn, xã liền xã thì tại sao khu ủy khu IV chạy tuột lên tận Preyveng để ăn hút. Me xừ Tư Kiệt còn sống sờ sờ đó hãy bớt nói phéc để khỏi bị cô Tám Lệ nhét mồm bằng giấy… pơ luya.

     Chúng ta hãy cùng nhau cúi hôn mảnh đất Củ Chi đau khổ của chúng ta hiện nay đang nhục nhã vì bị bọn Cộng Sản đem ra làm trò bịp thế gian.

     Cộng Sản nghĩa là đại bịp. Chúng bịp nhân dân, bịp thế giới và tự bịp chính mình. Anh muốn tự ngưng bút ở đây nhưng thấy còn nhiều sự thực bị bưng bít nên viết tiếp. Hai ngàn trang sách mà anh viết ra đây sẽ vạch trần bộ mặt láo toét kinh hoàng của bọn Cộng Sản Hà Nội mà cả anh lẫn em đều là nạn nhân. Anh muốn nhắc chúng nó rằng thời kỳ Mỹ đóng chốt Đồng Dù, Củ Chi chỉ là một bãi tha ma không một bóng người thấp thoáng, không một gốc cây còn đứng nguyên, không một tiếng chó sủa gà gáy. Tất cả xã ủy đều chết, bị bắt, hồi chánh hoặc ngưng hoạt động. Ông Út Một Sơn bí thư đầu tiên Củ Chi bị pháo Đồng Dù bắn lắp hầm chết ở Bàu Lách Nhuận Đức năm 1966. Chắc em còn nhớ chớ? Nếu địa đạo Củ Chi nối liền thôn xã (theo ông tác giả ngốc này mô tả thì nó chỉ kém đường xe điện ngầm ở Mạc Tư Khoa chút thôi) thì sao quận Củ Chi lại cắt ra làm hai: Nam Chi, Bắc Chi ? Là vì cán bộ không đi lại được giữa hai phần đất này. Người ở đâu nằm chết ở đó. Mỗi sáng lóng ngóng chờ “chụp dù, nhảy dò, xe tăng càn” để lũi. Nhưng cũng không có đất lũi. Chỉ còn một cách độc nhất là làm hầm. Mỗi ông bà có một cái hầm bí mật (nên nhớ hầm bí mật chỉ là một cái hang ếch chứ không phải địa đạo và không có hầm bí mật nào ăn thông ra địa đạo cả ) Sự sợ hãi chết chóc làm tê liệt mọi ý chí. Cán bộ chỉ mong bị bắt sống cho khỏe thân. Cho nên họ ngồi trên miệng hầm ngụy trang với vài cành lá sơ sài như những người câu tôm câu cá ở bờ sông vậy. Do đó có danh từ “ngồi thum.” Nhưng ngồi thum trong vùng căn cứ cũng không an toàn vì bị máy bay trực thắng cá rô hay quạt hoặc bị ăn pháo bầy dọn bãi trước khi Mỹ đổ chụp. Nên các bà Năm Đang, Hai Xót, khu ủy, quận ủy mới ra tá túc nhà dân ở Ấp Chiến Lược để “chạy lan” như chuột mất hang. Chạy lan có ngày cũng chết như trường hợp của cô Tư Bé, quận đội phó bị lính Mỹ bắn chết ở Đồng Lớn. Hay ông Tám Châu bí thư quận bị pháo bắn mất đầu ở Bố Heo.

     Chắc em biết rõ sự chia cắt của các xã trong quận vì tình trạng “ngồi thum” và “chạy lan”. Xã Trung Lập đẻ ra Trung Lập thượng, Trung Lập hạ, An Nhơn nứt thành An Nhơn Đông, An Nhơn Tây, Phú Hòa cắt thành Phú Hòa Đông, Phú Hòa Tây v. v. . .

     Tội nghiệp cho Madeleine Riffaud, Wilfred Burchett và mấy ông Giáo sư Liên Xô đã vượt hiểm nguy vô tận đất Củ Chi và rừng Con Mên để coi giải phóng đánh Mỹ! Tội nghiệp, vô tới đây họ chỉ ăn bom và lũi như chuột đến nổi đòi về ngay không biết cái địa đạo là gì. Cũng may cho bọn anh lúc đó. Nếu cặp ký giả ba sồn này ở lại lâu hơn và họ đòi đi nghỉ mát dưới địa đạo ngay ở đít Đồng Dù thì rắc rối to cho các anh rồi.

     Đến nay mụ đầm già không biết gì kia đang ở đâu, sao không trở lại xem địa đạo Củ Chi do kiến trúc sư Nguyễn Thành Linh mới vừa xây dựng năm 1985 ? Nhớ tới W. Burchett anh không khỏi phì cười. Lão ta nằng nặc đòi xuống địa đạo và xem các dũng sĩ bố trí địa đạo chiến cho hắn quay phim. Anh và Tư Linh hồn vía lên mây. Địa đạo ở đâu mà coi? Kể từ năm 1965 trở đi, sau khi Củ Chi ăn dưa hấu B52 vài trận, ai cũng thấy những lỗ bom sâu từ sáu thước đến mười một thước cho nên không ai dám cho rằng địa đạo là bất khả xâm phạm nữa. Cực chẳng đã mới chui hầm bí mật thôi.

     Tư Linh vốn là cán bộ địch vận, nhanh trí bảo Burchett: “Người đồng chí hơi to, vậy để chờ vài hôm tôi cho làm nắp rộng để đồng chí xuống mới lọt. ” Sau đó khất lần rồi cho qua luôn. Còn vụ xem địa đạo chiến thì anh cho đội dũng sĩ của em bịp hắn một cú thần tình, nhớ không? Hắn rất phục đội dũng sĩ. Đến nay hắn đã chết rồi, hắn vẫn chưa biết địa đạo là cái gì.

    Em Mô thân,

     Chuyện Củ Chi, chuyện anh và em nhiều vô số kể. Nhắc chuyện này lại nhớ chuyện kia. Nhắc Hố Bò nhớ Góc Chàng, nhắc Bến Mương nhớ Suối Cụt, nhắc Thái Mỹ nhớ Đồng Dù, toàn những kỷ niệm máu lửa không thể quên được. Nhớ cảnh nhớ người khôn xiết. Ba bốn lần anh bị thương ở Củ Chi đều có em băng bó hoặc tới y xá săn sóc. Anh đã tựa đầu vào vai em, anh đã nằm trên xuồng do em bơi qua sông Sài gòn, anh đã cùng em ngồi ở rừng Lộc Thuận ngắm pháo sáng tua tủa trên nền trời Củ Chi. Anh và em đã từng hái những trái sầu riêng trong vườn sau nhà em và ngồi ở bậc đá bên con suối nhỏ. anh thì ăn sầu riêng còn em đàn bản Đứt Đường Tơ cho anh nghe. Anh bảo em: “Tơ đâu có đứt mà đàn bản ấy. “

     Chẳng ngờ đó là bản đàn định mệnh của chúng ta. Bây giờ “Tơ đã đứt” và không phương nối lại, đàn một nơi dây đàn một ngả.

     Anh chúc em hạnh phúc. Hy vọng một ngày rất gần, chúng ta sẽ gặp lại nhau và sẽ về thăm lại Củ Chi dưới một khung trời mới.

     Viết xong lúc tượng con quỷ chúa Lenin bị giật sập ở Mút-cu-oa

    Dương Đình Lôi

    **************************

     NHỮNG ĐIỀU KHÔNG NÊN NÓI RA, NHƯNG PHẢI NÓI

    Hoang Nguyen

    From:hpnguyen16@hotmail.com



    Đáng lẽ tôi không nên viết bài này, và cũng đáng lẽ, tôi không nên rạch ròi trắng đen như thế. Nhưng vì lương tâm phải nói lên sự thật, tôi buộc phải nói. Ai nghe, hay phản bác thế nào, tôi xin nhẫn nhịn lắng nghe.

    Tôi viết với tư cách 1 nạn nhân cộng sản, muốn nói rõ điều mình suy nghĩ trong tâm trí mà không bị áp đặt hay vì sự yêu ghét 1 cá nhân nào.

     Tôi viết tư cách 1 người đã từng đi dạy trong nhà dòng gần 10 năm và có học trò là cha, là sơ… có bạn bè nhiều người làm cha, sơ, người có chức trách trong hàng giáo phẩm nhiều quốc gia.

    Tôi viết với tư cách 1 người tìm hiểu về Hồi Giáo và các nước Trung Đông, có bạn bè, người ở trọ là người Ả Rập và Do Thái. Và là 1 cây bút không biết sợ khi phải đụng chạm bất cứ ai. Ngày mai Chúa có nói tôi rớt xuống hỏa ngục vì viết ra những điều này, tôi cũng viết.

    Tôi không tán đồng chuyện Đức Giáo Hoàng can dự và có những lời nói đối với những quyết sách của chính phủ Mỹ, và cụ thể là bản thân ông Trump.

    Xưa nay, tôi KHÔNG cuồng ông tổng thống VỚI TƯ CÁCH 1 CÁ NHÂN ĐI PHÁN XÉT 1 CÁ NHÂN KHÁC. Tôi cũng không hoàn toàn đồng ý với các chính sách mà ông ấy đưa ra. Tôi cũng không hề nghe và để tâm những chủ đề ông ấy nói ra gây tranh cãi. Nhưng với tư cách 1 công dân nơi quê hương thứ 2, và là người ủng hộ các giá trị cốt lõi mà ông ấy đã đưa nước Mỹ hướng đến như các vấn đề cấm phá thai, chuyển giới cho trẻ vị thành niên, làm trong sạch guồng máy chính quyền, và chống lại những trào lưu TRUNG DUNG đối với các chính thể HG quá khích đang tàn phá Châu Âu và toàn thế giới, thì TÔI

     HOÀN TOÀN ỦNG HỘ ÔNG 47.

    Cách đây nhiều năm, có những vụ lộn xộn ở giáo phận Bùi Chu, lúc ấy do Đức Cha Hoàng Văn Tiệm nắm giữ, tôi đã trực tiếp gọi điện thoại về cha bề trên dòng Don Bosco, để gởi các kiến nghị. Ngài đã nói với tôi những lời này cách rất chân tình:

    - Thưa anh, tôi biết là Đức Cha làm sai. Chúng con trong tư cách là 1 cộng đoàn dòng tu, nơi Đức Cha từ đó mà lên làm giám mục. Nhưng, khi ngài được tòa thánh bổ nhiệm lên hàng giám mục, thì ngài là bề trên của chúng con. Chúng con chỉ có thể góp ý trong riêng tư, chứ chúng con không có quyền hạn và trách vụ để lên tiếng khiển trách ngài. Cũng như ngài, khi được bổ nhiệm, thì ngài hết trách nhiệm với nhà dòng. Và ngài chỉ có thể góp ý nếu ngài không vừa lòng nhà dòng, chứ ngài cũng không được lên án hay có quyền hạn tài phán trên các vấn đề của nhà dòng (dù ngài ở địa vị cao hơn)….

    Ở đây, tôi nói thêm 1 câu mà để đủ ý nghĩa. Nhưng nếu 1 nhà dòng Ở TRONG GIÁO PHẬN BÙI CHU có điều gì sơ sót, thì Đức Cha giáo phận ấy có toàn quyền khiển trách và tường trình về nhà dòng để nhà dòng xử lý. Chứ Đức Cha không được can thiệp vào nội bộ nhà dòng.

     Vậy ở đây, khi đức GH được bầu vào trách vụ có vai trò là chủ chăn của giáo hội hoàn vũ, ngài không còn là người bị/được chi phối bởi giáo quyền mà ngài từ đó ra đi. Nên ngài không phải SỢ, HAY PHẢI BỊ NGĂN TRỞ MÀ PHẢI IM LẶNG, KHÔNG DÁM LÊN TIẾNG. Nhưng, cũng như Đức Cha Tiệm, ngài nếu muốn góp ý với nước nơi ngài từ đó xuất phát, thì ngài phải thông qua đại diện toàn quyền Roma ở Mỹ, tức đức Khâm Sứ tòa thánh để truyền đạt ý kiến mình mong muốn. Nếu ngài lịch sự hơn, những điều ngài ấy không bằng lòng, thì có thể truyền đạt qua HĐGM Mỹ, và HĐ sẽ có trách nhiệm truyền tải ý ngài muốn nói với tổng thống qua đức cha Tổng Thư Ký.

    ĐÓ LÀ ĐÚNG NGUYÊN TẮC NGOẠI GIAO VÀ SỰ LỊCH SỰ TỐI THIỂU GIỮA CÁC NGUYÊN THỦ.

    Nếu gia đình Đức GH không còn ở Mỹ, thì ngài có thể nói bất cứ những gì ngài ấy muốn, mà không có một sự ràng buộc. Nhưng, khi gia đình ngài ấy vẫn ở Mỹ, thì sự tôn trọng đối với người lãnh đạo vùng đất ấy là điều mà ai cũng phải biết, chứ đừng nói đó là 1 vị giáo hoàng.

     Xưa nay, thông lệ khi đến 1 vùng đất nào, thì vị viếng thăm đều phải đến chào người lãnh đạo khu ấy. Dù có là giáo hoàng, khi thăm 1 giáo xứ nhỏ, thì ngài cũng phải đến chào thăm vị linh mục chính xứ trước. Đó là quy tắc lịch sự và thông lệ xã giao. Đức GH tuy không viếng thăm Mỹ, nhưng vị khâm sứ có vai trò như 1 sự hiện diện của chính bản thân ĐGH, thì vị khâm sứ mới là người lên tiếng và truyền tải những ý kiến hay lời nói của vị cha chung.

    Năm xưa, khi đức HY Roger Etchegaray, là HY người Pháp có mối liên hệ mật thiết với chính phủ Việt Nam, khi qua chủ sự thánh lệ an táng cho Đức HY Trịnh Văn Căn, của tổng giáo phận Hà Nội và họp với chính phủ Việt Nam, thì khi bị chính phủ Việt Nam chất vấn sao có những thông tin sai lạc về tình hình giáo hội địa phương, Đức HY đã lên tiếng:

     - Vậy phải cho chúng tôi mở tòa sứ, để chúng tôi cử người trực tiếp đến tiếp xúc với chính phủ và thấy bằng mắt những vấn đề mà giáo quyền nói là thông tin sai lạc. Vì chính phủ không cho chúng tôi tiếp xúc trực tiếp, thì chúng tôi phải nghe thông tin từ bên ngoài thôi.

    Nghe thế, các viên chức chính phủ VN đều im, không dám phản bác.

     Mỹ đâu phải Việt Nam đâu mà ĐGH không dám truyền tải ý mình muốn nói qua đức khâm sứ, hay HĐGM Mỹ để nói chuyện trực tiếp với ông Trump, sao phải thông qua báo chí? Hay phải lên tiếng ở nơi rất xa để những lời ấy được truyền vào Mỹ qua các kênh media?

    IT IS SO WEIRD.

    Ở cái xứ tự do này, ngay cái con Somali lấy anh trai, ăn cắp bạc triệu mà ngay trước mặt ông tổng thống, nó còn võng mỏ lên chửi không sợ sệt, chứ nói gì 1 vị GH đứng đầu hơn 1 tỉ giáo dân, lại phải lên báo nói mình không sợ ông Trump sao? Vậy chẳng hóa ra, ĐGH đang xếp mình ngang hàng với những đứa đầu đường xó chợ đang hàng ngày lên các trang mạng xã hội ra rả chửi ông tổng thống được dân bầu ra sao?

     Sử học, khi đánh giá 1 ai, hạng thấp nhất, họ chê là KÉM. Tôi cũng cũng vô phép mà dùng từ này: KÉM.

     Tôi nói anh chị em nghe nè, bà Kim Cương khi được phỏng vấn về mối quan hệ với Thẩm Thúy Hằng, bà ấy nói:

    - Ngày ấy chúng tôi còn trẻ, lại báo chí muốn bán chạy nên đặt lời rồi viết tít để chị em chúng tôi xích mích nói qua lại với nhau. Nhưng trong tư cách là đồng nghiệp, chúng tôi tôn trọng lẫn nhau.

     Thời trước 1975, báo chí của 1 xã hội được mệnh danh là văn minh, tiến bộ thì cũng có muôn vàn tờ lá cải, nhớp nhúa ăn tiền, nhất là mấy tờ về chính trị và mang danh văn hóa. Chúng xào xáo thông tin để bán báo và khiến người ta tranh cãi, tò mò rồi tìm đọc. Rồi thu tiền bất chính bằng cách vu vạ cáo gian này nọ qua chữ nghĩa. Như bà diễn viên hài Mỹ Chi đóng với TTH trong phim NÀNG, 2 người tranh chồng (Trần Quang đóng), thì báo Đời của ông Chu Tử giật tít nói Mỹ Chi giật chồng người ta. Để “đánh” nhạc sĩ của lò Nguyễn Đức với những cô Phương thì họ nói ông ấy làm cô PPH có bầu phải bỏ trốn. Có nhạc sĩ còn lên báo nói: Thằng đó là nhạc sĩ mà thất đức, làm ô uế học trò … Ngày nhỏ, đọc tôi tin ngay, tại lúc đó sau 1975, báo chí hiếm quá, thèm đọc nên muốn hiểu VNCH phải tìm đọc bất kể chứ có kiểm chứng gì đâu. Giờ lớn thì mới biết là tin láo xạo, câu like, câu view…

    Thời nay là thế kỷ 21, bắt điện thoại lên là nói chuyện mặt đối mặt. Muốn nói chuyện với Kim Jun Inn, ông Trump cũng còn gọi được, cớ gì 1 vị giáo hoàng không làm được nơi đất nước mà mình sinh ra? Mà phải tìm tụi diều hâu hút máu bán … ở bệnh viện để có tiền rồi tuyên bố vung vít này nọ?

    Cái lỗi này, tôi cho là phải nhắm vào HĐGM Mỹ, ngài khâm sứ tòa thánh tại Washington, các cha thư ký, người mà mỗi sáng đặt chồng bảo ĐÃ ĐƯỢC CHỌN LỌC THEO Ý để ĐGH lướt tin buổi sáng, và các cố vấn trong hội đồng HY. Cùng những phe cánh ở giáo triều. Thử hỏi các ngài ấy biết gì về HG, về Iran, về các cuộc đàn áp, giết chốc đang xảy ra trong lòng chế độ?

    CÁC NGÀI ẤY KHÔNG BIẾT GÌ HẾT

    Tôi chỉ là giáo dân tầm thường và nhỏ bé, nhưng chính vì thế, tôi thấy rõ vì tôi đứng ở ngoài cuộc, không bị những rối ren và toan tính của 1 thế giới huyền ão của các nhà làm chính trị hay tôn giáo chi phối. Chứ nếu tôi vào địa vị như ĐGH hay ông Trump, tôi sẽ còn tệ hơn họ.

    Tôi chỉ nói thật lòng mình mà không có chê trách 1 bên nào hết.

    Còn cái đám lau nhau bên dưới, không làm diều hâu thì cũng là cá hút máu, thì xin biết thì nói. Không biết thì ngậm cái mồm lại giùm. Ma quỷ nó thắng thế gian bởi cái đám chuyên đi bới phân thiên hạ rồi trét lung tung đấy. Chúng mày không biết thúi là gì à? Đến nhà tao cho ngửi để biết.

    Hiểu không?

    KHỐN NẠN & PHẢN QUỐC

     *********************

    Phim tài liệu song ngữ Anh-Việt Trần Văn Bá.

    Chu Lynh

    From:chulynh@gmail.com

    Tue, Apr 7 at 7:00 AM

    Vietnam Film Club xin chuyển đến Quý vị để nhờ phổ biến.

    Phim tài liệu song ngữ Anh-Việt Trần Văn Bá.


    https://youtu.be/N9CbinhEXzc

    Đa tạ

    Chu Lynh

    VIETNAM FILM CLUB

    www.vietnamfilmclub.org

    **********

    GIẢI MÃ BÍ MẬT LỊCH SỬ:

    Tẩu Tướng  Và Kịch Bản "Kíu Nước" !

    - Song Kiếm-

     Trong những ngày qua, dư luận của cộng đồng Người Việt Tị Nạn CSVN khắp nơi tại Hoa Kỳ đã không ngừng xôn xao, bàn tán về sự xuất hiện bất ngờ của cựu Đại tướng Trần Thiện Khiêm , bí danh "Tư Kiếng", một đảng viên Đại Việt QDĐ (gia nhập lúc ông còn phục vụ tại Huế thuộc Quân Khu II); sau đó do thời cuộc đưa đẩy, ông  lại trở thành một đảng viên loại nòng cốt của Cần Lao Nhân Vị Đảng.

     Dưới trào họ Ngô, ông được cựu Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận là "dưỡng tử" vì đã có công "cứu giá", bẻ gãy được cuộc đảo chánh của lưc lượng Dù do Đại tá Nguyễn Chánh Thi khởi động ngày 11-11-60. Ông Khiêm đồng thời là "con chủ bài" của các chế độ ở miền Nam VN cho đến khi mất nước ù té chạy trước ngày 30-4-75, Và, theo các tài liệu từng được giải mật của người Mỹ cũng những tin tức phổ biến rộng rãi trên báo chí cũng như các phương tiện truyền thông người Việt hải ngoại cho biết : chính Trần Thiện Khiêm  từng giữ nhiều vai trò chủ động trong các biến cố chính trị tại VNCH trước năm 75 và quan trọng nhứt ông Khiêm là một  tên "tay sai" đắc lực nhứt của cơ quan tình báo tức CIA Hoa Kỳ tại VN.

    Người ta quá đổi ngạc nhiên là sau hơn ba mươi lăm năm "tuyệt tích giang hồ", cố ẩn mình trong bóng tối; chủ trương "im lặng là vàng" để hưởng thụ. Nói chung suốt cuộc đời ông chỉ ù biết "ngậm miệng ăn tiền" (đúng bản chất cố hữu). Ông thích hoạt động âm thầm chứ không "ồn ào" náo nhiệt kiểu cao bồi Nguyễn Cao Kỳ.

     Nhiều người quá đổi ngạc nhiên tự hỏi : " Trước thời cuộc quá nhiễu nhương ở hải ngoại hiện nay; với một con người khôn ngoan xảo quyệt như tướng Khiêm, tại sao lại không chịu "yên phận" còn lê lết thân già, cố ngóc đầu tái xuất giang hồ và tuyên bố nhiều chuyện "lãng nhách" không giống con giáp nào; ngoài ra, lại còn ưa đóng kịch, hết đi "ủy lạo" rồi đến họp báo với một số băng đảng tay sai MT/Việt Tân, và mấy cơ quan truyền thông, "đề cao" các hoạt động giúp đở "Thương Phế Binh" VNCH của lũ con buôn mà chính ông ta từ khi "bễ dĩa" và "đứt phim" đến nay chưa hề thí cho TPB, "những người bị bỏ quên" một đồng xu ten nào cả." ?

    Thử hỏi, hành động của cựu Đt Trần Thiện Khiêm như thế có "kỳ lạ" không? Và xin hỏi lại, liệu ông có còn là người biết thế nào liêm sĩ không? Trước khi góp ý để có câu đáp số về: "Mục đích xuất hiện bất ngờ của TTK", chúng tôi xin được đóng góp một vài tin tức thu lượm để giúp quý vị dễ dàng trong việc kiếm tìm câu trả lời.

    Vào khoán cuối năm 1964 và đầu 1965, miền Nam được đặt dưới sự "lãnh đạo" của bộ Tam Đầu Chế gồm có các tướng Dương Văn Minh,Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm. Về vị trí trong bộ Tam Đầu Chế đó, thì tướng Nguyễn Khánh có phần "nặng ký" hơn; vì Khánh vừa là Chủ tịch kiêm Thủ tướng Chính phủ, lại có quân trong tay; phần tướng Trần Thiện Khiêm  chi là Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân; riêng Dương Văn Minh người bị thất sủng, chỉ có "danh hảo" ngồi để làm vì và tượng trưng.

    Trong hoàn cảnh đặc biệt đó, Nguyễn Khánh lại được người Mỹ trực tiếp yểm trợ, cụ thể, Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, ông Mac Namara là người công khai ra mặt ủng hộ tướng Khánh. Ông Mac Namara từng thẳng thừng tuyên bố:"nếu tướng Khánh bị lung lay, thì ông sẵn sàng từ chức". Trước việc công khai ủng hộ mạnh mẻ của người  Mỹ như thế, tướng Nguyễn Khánh đâm ra kiêu căng ngạo mạn, tìm đủ cách tập trung quyền lực với tham vọng trở thành một nhà độc tài quân phiệt hạng nặng tại Á Châu. Tướng Khánh mỗi ngày một lộng hành, và càng làm nhiều điều xằng bậy. Hết Hiến Chương Vũng Tàu đến thay đổi chính phủ không ngoài mục đích củng cố quyền lực, lái quốc gia theo đường lối độc đoán và sở thích của mình. Ngạo mạn đến độ ông dám nói :"Quân đội là cha của nhân dân." Trước sự hành động quá trớn của Nguyễn Khánh, một số nhân sĩ trong đó có đại diện vài chính đảng quốc gia chân chính và nổi tiếng đã âm thầm tiếp xúc với tướng Khiêm; họ yêu cầu ông ta, vì quyền lợi tối cao của tổ quốc và tương lại miền Nam VN, đề nghị ông Khiêm nên tìm cách loại bỏ ông Khánh ra khỏi chế độ.

    Trước khi đưa ý kiến, nhóm nầy đã suy nghĩ kỹ; theo họ, trong hoàn cảnh bấy giờ, tướng Khiêm là người có thể đóng giữ vai trò then chốt đó. Ông vừa có đủ thế và lực để lật đổ Khánh dễ dàng. Tiếc thay, tướng Khiêm lại quá yếu hèn, ngoài ra, lại quá lệ thuộc vào "người chủ Mỹ" của ông. Vì thế tướng Khiêm đã dứt khoát trả lời với các vị đó là việc"lật đỗ" Nguyễn Khánh không khó; hành động nầy có thể thực thi được, Tuy nhiên, xin hỏi lại, liệu người Mỹ có cho phép chúng ta ra tay hạ Khánh không? Xin quý vị nhớ cho "Thế lực của tài phiệt Mỹ đang nằm trong tay của ông Mac Namara."

     Các nhân sĩ thấy vậy quá thất vọng đành phải cáo biệt ra về. Về sau, khi tướng Khánh phát giác, và biết được vụ việc, Mặt khác, sẵn dịp muốn trừ hậu hoạn, nên đã "lệnh" cho tướng Khiêm biết:"nếu muốn được "an toàn" phải rời VN ngay lập tức. CIA phần do kiêng nể thế lực của Bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Mac Namara, đành khuyến cáo tướng Khiêm "giả dại qua ải"; chấp nhận thời cơ vì thế ông Khiêm phải chịụ nhục, lủi thủi xách gói âm thầm rời bỏ VN để làm Đại sứ để cho tướng Nguyễn Khánh, ở nhà rãnh tay độc quyền múa may.

     Tướng Trần Thiện Khiêm, con người có tính rất ích kỷ và hiểm độc, ông chỉ biết 2 chữ "quyền lợi". Quý độc giả suy nghĩ thế nào về một hành động quá bất nhẫn, vô nhận đạo sau đây. Được biết, lúc ông đang hành xử chức vụ Thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, trong một buổi họp Hội Đồng Nội Các; Bộ Kinh tế báo cáo cho Thủ tướng rõ sự việc, đồng thời xin chỉ thị. Câu hỏi? Liệu Bộ Kinh Tế phải giải quyết thế nào để "thanh toán"một số lượng lớn gạo bị mốc, mục và ẩm ướt không bán ra được ngoài thị trường. Không cần suy nghĩ. Tướng TTK lập tức chỉ thị cho Bộ Quốc Phòng  ra lệnh cho các đơn vị quân đội phải tìm cách "tiêu thụ" hết số gạo mục nát đó; ông bảo, buộc "bọn lính" nó ăn hết số gạo mục nát đó thì mội việc sẽ được giải quyết "ổn" và chính phủ khỏi bị thiệt hại . Trước lòng dạ độc ác của một vị lãnh đạo tối cao quân đội, xem binh sĩ dưới quyền như súc vật. Thử hỏi làm sao nói đến chuyện nâng cao tinh thần binh sĩ để chiến đấu được?

     Ngoài ra, xin góp thêm một tin mới gần đây cho biết, số là trong những năm đầu của "thập niên 90" khi ông Thiệu toan tính đến chuyện sử dụng đồng tiền của băng đảng Việt Tân để dựng nên cái gọi là "Tập Thể Chiến Sĩ VNCH hải ngoại" hòng mưu toan lót đường cho việc tái xuất giang hồ của ông. Trong kế hoạch nầy ông Thiệu đã nghĩ ngay đến tướng Khiêm, mời gọi ông này tiếp tay, nhưng ông Khiêm đã bai bải từ chối; không những thế ông lại còn nói móc: "trước đây mà còn làm không ra gì bây giờ còn "bày đặt" làm trò cho chúng chửi. Mọi người đều tự hỏi. Nếu cho đó là một hành động cứu nước thì tại sao hồi đó tướng Khiêm không khứng chịu, mà ngày nay lại còn cố lê lết cái thân già đi "diễn kịch" chọc cho người đời phỉ nhổ thêm?

    Qua góp ý nói trên người ta đã khẳng định, tướng TTK suốt cả cuộc đời phần lớn chỉ vì quyền lợi bản thân không ngoài mục tiêu là "phục vụ quyền lợi Mỹ"; binh nghiệp của ông chỉ tóm gọn trong 4 chữ "gọi, dạ, bảo, vâng", chứ ông ta chưa bao giờ từng góp ý kiến nào hết. Biết rõ như vậy, chúng ta đã thấy có thể nói rõ: "tẩu tướng" TK Khiêm chỉ tái xuất giang hồ vì tuyệt đối nghe theo lệnh quan thầy cũ, nên ông ta mới có những việc làm nham nhở, dựng lại các vỡ hài kịch ngớ ngẩn và rẽ tiền như chúng ta đã nhận thấy trong thời gian qua, Nói chung, cổ võ "Hòa Giải và Hòa Hợp" một cách ấu trĩ.

     Câu hỏi đặt ra: Thế lực phản động và tay sai muốn TTK Khiêm đóng  vai trò gì trong giai đoạn hiện nay? Trước khi tìm hiểu manh mối, mời quý độc giả thử xét qua vài yếu tố như: bối cảnh tình hình và "vây cánh, dư đảng" quanh cựu tướng TTK.

     A-Vây cánh, dư đảng:

    Mới thoáng qua, người ta đã ngữi thấy "mùi khét"của băng đảng MT/VT - Từ Phan Tấn Ngưu, một Thiếu Tá CSQG, vốn thuộc băng đảngVT, "đệ tử" của Nguyễn Khắc Bình) hiện đang "xử lý thường vụ Tập Thể Chiến Sĩ" ; một cái thây ma "chết mà chưa chôn" của bọn Việt Tân dựng nên từ năm 2003.  Tập Thể nầy do đã làm  quá nhiều điều thối tha ngu dốt nên chẳng còn ai đếm xỉa đến. Bên cạnh đó cái thây ma đó còn lại một vài "tẩu tướng" như Nguyễn Khắc Bình, Hồ Văn Kỳ Thoại  và bại tướng Trần Văn Chơn. Ngoài ra, phụ tá đắc lực nhất trong việc "móc nối" với tay sai Việt Tân còn có Phạm Bá Hoa; Nhan Minh Trang (đã qua đời) và Huỳnh Hữu Hiền (cựu Tư Lệnh KQVN, đảng viên Tân Đại Việt ) .

     Những nhân vật nầy đều có công trong việc "gá nghĩa phong trần" cho nàng Lệ Tuyết (một cựu nhân viên HKVN) gặp tướng Khiêm. Tuyết là một me Mỹ, có tiền của do chồng Mỹ Đen chết để lại, Tuyết vừa đóng vai lo "nâng khăn sữa .... ." cho ông Khiêm, vừa là "hộp thư" để móc nối liên lạc với  . . phía bên kia .Tuy nhiên, Tuyết do cảm thấy vai trò của mình mỗi ngày một quan trọng nên đã tỏ ra phách lối với đám "bầy tôi" của tẩu tướng, do đó bị bọn nầy "tẩy chay"phản đối; "động ổ" buộc lòng đôi lứa phải dời "bản doanh" từ Houston lên quá Sacramento, California.

    Với "bầu đoàn thê tử" và loại "sứt quai gãy gọng" như thế mà Tẩu Tướng còn dám xâm mình xem thường hải ngoại tái xuất giang hồ mưu toan diễn hài kịch "kíu nước".

     B- Bối cảnh:

     Nhiều người am hiểu " chính trường "  đặc biệt tướng Khiêm đã quá rõ. Tình hình hiện tại có liên quan đến đất nước, thì việc tư bản Mỹ có vẻ hùng hổ với Trung Cộng, đó chẳng qua chỉ là một kịch bản, muốn phô trương lực lượng để kiếm ăn, cụ thể là buôn bán vũ khí. Khẳng định, nếu Mỹ mà không bán được vũ khí tư bản sẽ bị sập tiệm. Người Mỹ đã biết  rõ phải "xé nước Tàu" ra từng mảnh; thành Mông, Mãn, Hồi và Tây Tạng riêng biệt để triệt chú Ba Tàu. Nhưng là buôn bán mà, nghĩ lại dù sao Tàu vẫn là một thị trường quá béo bở nên phải nhường con tép bắt con cá. Hơn nữa tư bản đoán chắc TC không dám đụng đối với Mỹ lúc nầy. Lý do, từ mấy ngàn năm Tàu đói rách, bây giờ mới phất lên đôi chút mà đánh nhau là vỡ nợ ngay. Vì thế nên hợp tác làm ăn để chia chát. Ngoài ra thế Siêu Quyền Lực Tư Bản cũng biết tỏ, đời nào mà Ba Tàu lại thả con mồi VN ra, trời gầm nó cũng không nhả; vì thê hết Nguyễn Minh Triết đến tên điệp viên Nguyễn Chí Vịnh có qua Mỹ à ơi! ví dầu . . thì người Mỹ vẫn tĩnh bơ vì họ đã thấy trước đường đi nước bước của VC, chúng chỉ là những tên Thái Thú của Tàu Đỏ nên "gia bộ" không chú ý.

     

    Riêng đối với VC, chúng cảm thấy quá nhục, vì  mỗi lần thăm viếng Mỹ, lại phải chui cửa hậu; lý do bọn ngụy nó thù dai, cứ ló mặt ra là bị đả đảo và tẩy chay, vì thế bọn VC qua cái mồi "Hòa Giải Hòa Hợp" xin người Mỹ can thiệp giùm đê tập thể người Việt tị nạn bớt chống đối . Đối với người Mỹ họ cho lời van xin của VC đó cũng đúng "yêu cầu" thôi, nên họ đã gần xa khuyên hải ngoại  nên "chống cộng có chừng mực". Nhưng người Mỹ đã lầm, không có vẻ gì ngăn chận thì sẽ chống cộng tà tà, nhưng ra mặt thì nhất quyết người Việt tị nạn sẽ cương quyết chống và chống đến cùng. Nếu một ai đó cho cộng đồng người Việt chỉ là "một đống cát rời rạt" thiếu đoàn kết. Đó cũng có phần đúng, nhưng tùy lúc, và tùy hoàn cảnh. Trước đây tiền nhân của người Việt đã chủ trương là phân tán đi tứ phương để mưu tìm sinh kế. Những khi hữu sự sẽ gọi nhau. Cụ thê, nhiều cộng đồng thường thì ít gặp nhau, nhưng có biến là họ sẵn sàng hành động ngay.

     

    Riêng với người nhận đóng vai trò nầy điều kiện là phải có thành tích, uy tín và chịu dấn thân. Thử hỏi, một loại tướng từng ù té chạy, là tay sai của ngoại bang làm sao có thể hoàn thanh nhiệm vụ tế nhị nầy. Quả đúng quan thầy của tẩu tướng TTK có mắt mà không tròng đã đánh giá sai hàng ngũ người Việt Tị Nạn CSVN.

     

    Riêng chúng tôi yêu cầu tướng Khiêm nên ngưng ngay các việc làm và lời nói thiếu cẩn trọng có liên quan đến cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ông càng múa may, người ta càng thấy cái hành vi hèn hạ của ông.

     Trước kia, lúc còn cư ngụ trong cư xá Tổng Tham Mưu, tôi từng thấy nội thất của tướng quân có một bàn thờ Phật rất trang trọng. Tôi nghĩ rằng, trong những ngày cuối cuộc đời, khuyên ông nên nương mình vào Phật để sám hối, việc đó còn có ý nghĩa hơn múa may vô bổ. Ông có thể vì ham muốn sắc dục "vừa đạp mái, vừa tụng kinh gõ mõ" còn hơn bàn luận chính trị chính em mà không thích hợp với hoàn cảnh.

    Song Kiếm

    14.10.2010

    Yen Tinh

    From:tinhyen2009@gmail.com

    Những Dấu Ấn Lịch Sử

    ********************

    Xin nghe để nhớ thời giam bị cầm tù không bản án-/-

    Nhớ Về Một Ăngten Trong Trại Tù Cộng Sản – YouTube


    https://youtu.be/6WI78B6bpuM?si=u3jwbcQv3pT4kvIQ

     

    https://www.youtube.com/watch?v=6WI78B6bpuM

    18-4-2026

    NGHÊ LỮ

    *****************

    GIẢI MÃ BÍ MẬT LỊCH SỬ: MỘT QUẢ BOM !

    ĐẠI TÁ TRẦN DOÃN THƯỜNG

    Sau khi cựu Thủ Tướng Trần thiện Khiệm (CTT) xuất hiện trong buổi khai mạc đại hội toàn quân tại CA ngày 29/9/2010 thì đã có vài luồng dư luận không mấy phấn khởi cho CTT  và sau buổi phỏng vấn trực tiếp truyên hình trên SBTN của Việt Dzũng thì dư luận chống đối CTT đã gia tăng mạnh mẽ và chỉ hôm nay tôi được đọc bài của Tôn Nữ Hoằng Hoa lên tiếng về vụ Ô. Tào Khang đăng trên báo điện tử Ba Cây Trúc mà tôi có gửi qúy vị, thì tôi mới biết Ô. TK bênh vực phần nào CTT nên tôi muốn “Gồng mình” lên để cho nổ một …quả bom mà có thể nhiều người, rất nhiều người chống đối. Quả bom này là nêu lên vài thắc mắc kính nhờ qúy vị giải đáp.

     Trước khi đưa ra ý kiến tôi xin phép được tự giới thiệu: Tôi là cựu đại tá Trần Doãn Thường thuộc binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt. Nhiệm vu quân sự đã hoàn tất là ngăn chặn được quân cộng sản xâm nhập từ Campuchia suốt giải biên giới Vùng 4 Chiến Thuật; đã được thuyên chuyển chỉ huy một trại LLĐB nội điạ mặc dù mang cấp bậc thiếu tá để làm nhiệm vụ của môt trung úy mà không phản đối thượng cấp vì tinh thần kỷ luật và vì quan niệm “Có Khả Năng Làm Việc Lớn Thì Có Thể Làm Việc Nhỏ”(Qui peut le plus peut le moins), đã chỉ huy lực lượng Trường Sơn một tiểu đoàn người thiểu số Thượng ở tỉnh Darlac (BanMêThuột), đã nhận nguyên một đại đội Fulro qui chánh mà đòi giữ toàn bộ vũ khí có cả trung liên và đại liên, đã ngăn chặn hoàn toàn vụ cs pháo kích thủ đô Saigon và kho xăng Nhà Bè. Về những nhiệm vụ không trực tiếp chỉ huy thì tôi đã được cử đi làm Tùy Viên Quân Sự tại Mã Lai Á, có gia tăng nhiệm kỳ 18 tháng thay vì 2 năm, đã là thành viên tại hôi nghị hai bên tạị La Celle St Cloud Pháp do Bác sĩ Phó Thủ Tướng Nguyễn Lưu Viên lãnh đạo, v..v..Nhiệm sở cuối cùng là Tổng Thống Phủ dưới quyền trung tướng Đặng Văn Quang. Những huy chương đã có, trong đó có Đệ Ngũ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, thư khen của đại tướng Westmoreland mà tôi còn lưu giữ, những cấp bậc đã thăng hoàn toàn do khả năng và sự tân tâm làm việc, tuyệt nhiên không do “chạy chọt” hay nịnh bợ mà có. Từ cuối tháng 4/1975 tôi chưa hề về Việt Nam , chưa gửi tiền cho thân nhân còn kẹt lại mà chỉ gửi quà để khai thác chi dùng. Nay không được cầm súng hoặc góp tài trí tham mưu cho quân đội, thì  thỉnh thoảng có làm thơ “Trâu Đánh” chống cộng. Tóm lại tôi đã là một quân nhân chống cộng và nay là một người tỵ nạn cộng sản tiếp tục chống cộng và chống triệt để. Tôi đã phải viết như trên để quý vị biết một chút về tôi trước khi đọc những giòng dưới đây, tuyệt nhiên không phải vì phô trương hay vì hàm ân của bất cứ ai trong chính phủ và QLVNCH để trả ơn. Rất mong quý vị hiểu như vậy.

     Thành thật mà viết tôi đã không biết lý do vì sao CTT xuất hiện trong buổi khai mạc đại hội toàn quân tại CA ngày 29/4/2010, do cựu th/tá Cảnh Sát  Phan Tấn Ngưu tổ chức, do đó tôi chỉ thông báo như một tin “động trời”. Ngay hôm sau tôi đã email tới vài vị quân nhân cao cấp thân quen rằng nên yêu cầu CTT không nên tham dự đaị hội sau 35 năm im hơi, lặng tiếng với quân nhân, với toàn dân Việt hải ngoại cũng như trong nước. Tôi không rõ những vị này có ai lên tiếng khuyên can hay là có khuyên can mà không có hiệu quả. Ngay sau vài lời tâm tình của CTT trong đại hội là những bài đả kích mà tôi miễn dẫn chứng. Tiếp theo là bài phỏng vấn của Viêt Dzũng với CTT thì sự phê bình chỉ trích CTT đã gia tăng phần gay gắt, ngoại trừ bài của Ô. Tào Khang mà tôi vưà được đọc như đã nói trên

     Tôi có vài điều thắc mắc xin qúy vị vui lòng giải đáp:

    1/ Chủ trương của Mỹ là be bờ, ngăn chặn cộng sản bành trướng. Khi đã nhận định rằng phải ngăn chặn Trung cộng bành trướng thì phải có biện pháp là không cho Trung cộng xử dụng CS Bắc Việt  để giúp Trung cộng bành trướng về Đông Nam Á. Như vậy nghiã lã Mỹ phải có tiện ích sẵn sàng bằng cách tạo dựng những cơ sở ở VNCH  để đáp ứng tình thế khi cần. Cố TT Ngô Đình Diệm muốn Mỹ cung cấp phương tiện để VNCH thi hành vì lý do có thể là muốn giữ công việc cho người VN, muốn giữ thuần phong mỹ tục của ngươì VN không bị tiền bạc của chuyên viên Mỹ, lính Mỹ lũng đoạn, và có thể đã nhìn xa, biết trước rằng bộ máy tuyên truyền CS Bắc Việt sẽ lập tức khai thác tối đa. Thiển nghĩ đó là tư tưởng của vi TT yêu nước, thương dân chân chính, tuy nhiên người Mỹ không quan niệm như thế mà nghĩ rằng VN chưa đủ khả năng thực hiện những cơ sở cần thiết như phi trường, xa lộ bằng những phương tiện cơ giới tôi tân trong thời gian ngắn, thích hợp với chiến cụ tối tân và đương nhiên là Mỹ phải tìm cách hạ bệ Ngô Tổng Thống. Vậy thì không chấp nhận Mỹ vào VN có phải là TT Diệm tự chuốc lây thảm hoạ chăng?

     2/ Khi Mỹ đã cần phải hạ bệ TT Diệm thì đã lợi dụng những thành phần bất mãn hoặc đã thân Mỹ rõ rệt trong đó có CTT là có thể thực hiện ý đồ của Mỹ. Vậy thì lên án CTT, tôi nghĩ có lẽ là sai lầm, vì nếu không có Trần Thiện Khiêm này thì cũng sẽ có TTKhiêm khác để Mỹ thực hiện ý đồ. Trong thời gian có cuộc đảo chánh 1/11/1963 tôi đang làm Chánh Văn Phòng của th/tg Lê Văn Nghiêm nên được biết trực tiếp từ th/tg LVN rằng CTT quả quyết không giết Cố TT Diệm nên mới được th/tg LVN theo, sau này cựu TT Diệm bị thảm sát là do CTT đã không ngăn chặn nổi những quân nhân hèn kém , vì tư thù, bất mãn mà phạm tội. Vậy thì có nên lên án CTT quá đáng không?

    3/ Khi CTT cầm quyền thì dân chúng miền Nam VN đã có khoảng 12 năm tự do, no đủ, tạm gọi là hạnh phúc. Sự thất bại là do CSBắc Việt đã quyết tâm xâm chiếm miền Nam bằng mọi cách kể cả BÁN NƯỚC cho Trung Cộng. Nước đã bán thì có thể vĩnh viễn mất. Chế độ thì có thể thay đổi tùy theo quyết tâm cuả dân. So sánh với Hồ Chí Minh, Phạm văn Đồng, Lê Duẩn và bè lũ cộng sản Việt Nam thì tội làm mất VNCH có lớn bằng tội của CSVN không? Qúy vị nghĩ sao?

     4/ Khi CTT xuất hiện sau 35 năm im hoì lặng tiếng có thể là vì hối hận, nhưng nay xuất hiện thì có thể là phe Ta đã tận tình bôi nhọ lẫn nhau, mà chưa ai bôi nhọ CTT (vì chưa xuất hiện!?) nên CTT chủ quan nghĩ rằng vẫn có thể là còn “sáng giá” vì có tin là đại sứ csVN Lê Công Phụng đã lên tiếng muốn nóí chuyện với vài cựu nhân vật cao cấp dân sư, quân sự VNCH mà không ai đáp ứng. Lý do là những vị được mời này có thể hoặc vì csVN đã lừa bịp quá nhiều, hoặc vi không tin rằng Mỹ đòi hỏi csVN thi hành nhân quyền là một sự bật đèn xanh để phe Ta đòi csVN thi hành Nhân Quyền, thay đổi Hiến Pháp đáp ứng nhu cầu của Mỹ. Hành động của Mỹ đòi csVN thi hành Nhân Quyền để gia tăng ủng hộ VN hầu ngăn chặn Trung cộng chiếm đất, chiếm biển cuả Việt Nam thêm nữa là nhu cầu của Mỹ và cũng là thực thi chủ trương dân chủ trên khắp thế giới. Tôi không khẳng định là CIA muốn đưa CTT ra chính trường vì đó là bí mật hậu trường chính trị. Mời qúy vị thử đua tên một vài vị còn có khả năng, uy tín để tranh luận thi hành Nhân Quyền với cộng sản. Xin đừng đưa tên Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy ra vì nhiều người “dị ứng”..   5/ Có nên lên án Mỹ đã nhẩy vào VN rồi bỏ, một hành động “đem con bỏ chợ” ? Chủ trương của Mỹ là Ngăn Chặn cộng sản bành trướng vì vào thời điểm 1960 Liên Xô còn mạnh, chư hầu Nga Xô còn nhiều, Trung cộng đã  ngự  trị Trung Hoa lục điạ có hơn 700 triệu dân là những lực lượng đáng kể mà Mỹ không muốn vọng động e thế chiến nguyêu tử có thể nổ ra. Ngăn chặn thì sẽ thất bại, vì ngăn chặn đồng nghiã với Thủ.  Không bao giờ chỉ Thủ mà thắng. Mỹ bỏ VN vì dư luận phản chiến lên cao trong nước và có thể vì Kissinger gốc Do Thái vận động bỏ VN để tăng cường viện trợ Do Thái.   6/ Sau khi giải đáp thoả đáng vài thắc mắc nêu trên nếu quý vị còn tiếp tục đánh phá CTT thì tôi nghĩ rằng qúy vẫn còn thánh kiến quá cao, còn cố chấp. Thiển nghĩ thay vì tiếp tục đả kích CTT mà ta đã nhận thấy ở tình trạng không thể làm khác hơn như là lật đổ cựu TT Diệm, như là không ngăn chặn được vụ thảm sát TT Ngô Đình Diệm và bào đệ, như là không can thiệp nổi với Mỹ ngăn chặn phe cộng sản tiếp vận chiến cụ cho cs BácViệt, không ngăn chặn nổi cao trào phản chiến ở Mỹ để Mỹ rút khỏi VNCH để phe Ta thất trận, v..v.. thì ta nên ngừng đả kích nếu ta tự nhận thấy vào thời điểm đó Ta đã không tài giỏi hơn CTT. Nhận định thì tốt hay xấu là tùy nhãn quan mỗi người nhưng chỉ trích mà không xây dựng thì đồng nghiã với phá họai. Tôi thấy rằng CTT đã không còn lanh lợi, nói năng không lưu loát, có hớ hênh khi phỏng vấn vì nhiều tuổi nhưng vẫn còn có lòng với quốc gia, dân tộc vậy thì hãy để yên cho CTT hành động xem có thể làm cho nước, cho dân khá hơn không. Nên chăng?   Để kết thúc bài quá dài ngoài ý muốn tôi xin qúy vị  đưa ra giải pháp Dùng Người Nào, Dùng Biện Pháp nào để cứu dân, cứu nước?   Mong lắm thay

    Kính

    Trần Doãn Thường

    AKA Thomas Tran 12/10/2010

    ******************


     



    • Blogger Comments
    • Facebook Comments
    Item Reviewed: DIỄN ĐÀN TRƯỜNG VBQGVN 3 SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HÂN 30-4-2026 QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA VẪN CHIẾN ĐẤU Ở GIỜ THỨ 25 SỰ THẬT HUYỀN THOẠI ĐẠO... Rating: 5 Reviewed By: SA CHI LỆ
    Scroll to Top