SỐ ĐẶC BIỆT QUỐC HẬN 30-4-2026 TRANG HỒI KÝ LÊ XUÂN NHUẬN & THƠ SONG NGỮ THANH THANH
hồi kí) TRUNG-TÁ NGUYỄN
VĂN LONG
Nhuận Lê
TRUNG-TÁ NGUYỄN VĂN
LONG
CỘNG-SẢN chiếm được
Miền Nam đã mười năm rồi mà tôi vẫn còn tiếp-tục bị chúng kêu lên, kêu xuống hỏi
cung. Tuy thế, nhờ những thời-gian đợi đi "làm việc" như thế tại các
trại giam như Thanh-Liệt ở Hà-Nội; Kho-Ðạn, Hội-An, và Hòa-Sơn ở Quảng-Nam; mà
tôi có dịp gặp nhiều cán-bộ Việt-Cộng cấp cao bị bắt về tội "kinh-tế"
hoặc "tham-ô" và cả "bạo-loạn" nữa, cũng như đồng-bào nhiều
giới phạm tội "phản-động hiện-hành", vượt biên, vượt biển, đưa hối-lộ,
xâm-phạm hoặc phá-hoại tài-sản xã-hội chủ-nghĩa, vân vân, nên tôi biết nhiều và
biết sớm những biến-cố xảy ra bên ngoài thế-giới "cải-tạo" hơn đa-số
anh+chị+em khác trong tù.
Tôi đã nghe tin
trung-tá Nguyễn Văn Long tự-tử từ lâu.
Nhưng vì có những trường-hợp sự thật khác với tin đồn; vả lại, biết đâu
đó không là một người khác mà lại trùng tên với người mà tôi thân+thương; hơn nữa,
anh Nguyễn Văn Long của tôi là một tín-đồ Ky-Tô-Giáo, lẽ nào lại tự hủy mình;
do đó, tôi vừa âm-thầm đau-khổ về hoàn-cảnh chung, vừa bán-tín bán-nghi về phần
anh Long. Ðến khi tôi được nghe thêm hai
viên "thủ-trưởng" -- một thuộc Cục Xuất-Nhập-Khẩu 2 tại "thành
phố Hồ Chí Minh", một thuộc Ban Hậu-Cần Quân-Khu 5 -- khẳng-định là họ có
nghe đề-cập trong nội-bộ cơ-quan rằng, ngoài một số tướng-lĩnh Miền Nam đã tự-sát
chứ không chịu đầu-hàng hay trốn chạy ra nước ngoài, có một trung-tá Cảnh-Sát
tên Nguyễn Văn Long, từ Ðà-Nẵng di-tản vào, đã tự-tử chết phía trước trụ-sở Quốc-Hội
Việt-Nam Cộng-Hòa, tôi mới tin chắc đó chính là anh Nguyễn Văn Long.
Anh Long vĩnh-biệt
cõi đời giữa cảnh lửa-bỏng dầu-sôi, bạn-bè nói riêng và đồng-bào nói chung thì
còn bận lo tự cứu lấy mình, trong khi kẻ thù thì càng thù hận anh thêm, lấy đâu
có những vòng hoa và những nén nhang cùng những dòng lệ thương tiếc tiễn anh về
nơi an nghỉ cuối cùng.
Năm 1982, tại Trại
bí-mật Thanh-Liệt, thuộc Huyện Thanh-Trì, Hà-Nội, là nơi giam-cứu các phần-tử
quan-trọng nhất, mà đa-số là cán-bộ Ðảng, Nhà-Nước và Bộ-Ðội ở cấp Trung-Ương,
do Bộ Nội-Vụ trực-tiếp quản-lý, tôi mới được một "bạn tù" cho biết
thêm một chi-tiết quý-báu về cái chết hùng-vinh của trung-tá Nguyễn Văn
Long. Ðó là Phạm Trung Linh, một
trung-tá bộ-đội Bắc-Việt, nguyên Trưởng Tiểu Ban Thanh Tra & Xét Khiếu Tố
thuộc Trung Ương Cục Miền Nam -- tổng-thư-ký của một tổ-chức đảo-chính quân-sự
dự-định hành-động vào đêm 24 rạng ngày Nô-En năm 1979 nhưng bất-thành nên bị bắt
cùng với một số tướng+tá và cán-bộ cao-cấp khác -- xác-nhận rằng gã đã có trông
thấy bức ảnh chụp cảnh trung-tá Nguyễn Văn Long mặc cảnh-phục chỉnh-tề nằm chết
trước một tượng-đài Chiến-Sĩ Quốc-Gia phía trước trụ-sở Quốc-Hội Việt-Nam Cộng-Hòa,
in trên bìa trước của một tạp-chí Hoa-Kỳ, trong kho sách+báo ngoại-quốc mà Việt-Cộng
ở một số cấp cao đã sưu-tầm để nghiên-cứu những gì có liên-quan đến Việt-Nam.
Thế là từ đó không những
tôi nguôi tủi sầu mà trái lại còn cảm thấy lòng mình vui thỏa cho anh Long. Báo
Mỹ mà đã đăng lên thì khắp thế-giới đều biết. Anh, cùng với những vị anh-hùng
tuẫn-quốc khác trong biến-cố lịch-sử 30-4-1975, đã nói lên được hùng-hồn và cụ-thể
tinh-thần bất-khuất của dân-tộc Việt-Nam yêu chuộng Tự-Do trước quyền-lực của cộng-sản
bạo-tàn.
Thuở ấy, vào khoảng
1950, ở Miền Trung có hai hệ-thống an-ninh: một bên là Pháp với cơ-quan Su^reté
fédérale (Liêm-Phóng Liên-Bang) và Police franc,aise (Cảnh-Sát Pháp), một bên
là Việt-Nam với cơ-quan Công-An & Cảnh-Sát Quốc-Gia. Anh Nguyễn Văn Long tùng-sự bên Su^reté
Fédérale (chính-trị) của Pháp, trong số vài người phụ-trách nội-ô Thần-Kinh;
còn tôi thì bên Cảnh-Sát (hình-sự) của Việt-Nam. Tôi kiêm cả việc sáng-tác, ra
báo, và dựng kịch cho sở-làm, và cho riêng mình.
Chúng tôi thường uống
cà-phê ở quán Lạc-Sơn, nhà hàng lộ-thiên trên lề đại-lộ Trần Hưng-Ðạo, quay
lưng vào chợ Ðông-Ba. Nhân-viên hai bên không ưa gì nhau, nhưng gặp mặt mãi
cũng thành quen nhau.
Dạo ấy, tôi viết cuốn
truyện "Trai Thời Loạn" chống Pháp xâm-lược và Bảo-Ðại bù-nhìn, nên bị
bắt giam; sau nhờ phái-đoàn của các nhân-sĩ Cao Văn Tường, Cao Văn Chiểu, cùng
với nhà-báo Phạm Bá Nguyên và cả Giám-Ðốc Thông-Tin Lê Tảo can-thiệp với Thủ-Hiến
Phan Văn Giáo, tôi mới được trả tự-do.
Ra tù, tự-nhiên tôi được thiện-cảm của nhiều người hơn.
Một hôm, anh Long
tâm-sự với tôi: "Tôi chống Việt-Minh
nên lỡ vào làm với Tây; nay tôi đã quyết sẽ thôi để qua làm với người
mình".
Anh ít nói, không
văn-hoa, lại lớn tuổi hơn tôi nhiều, mà đã nói thẳng với tôi như thế thì tôi hiểu
rằng anh đã đau-lòng khổ-trí đến ngần nào trước thời-cuộc bấp-bênh của nước
nhà. Trong thời-gian chờ-đợi, anh Long
đã nghe theo lời thuyết-phục của tôi, bỏ qua cho nhiều bạn thơ của tôi, thí-dụ
Nhất-Hiên, Vân-Sơn PMT, Như-Trị, v.v... mà Su^reté Fédérale đã định bắt
giam. Liêm-Phóng Liên-Bang của Pháp mà
đã bắt ai thì người ấy khó về được vẹn toàn.
Sau đó, anh đã chuyển
qua Công-An Việt-Nam; và Vân-Sơn Phan Mỹ Trúc cũng như Như-Trị Bùi Chánh Thời
thì vào Sài-Gòn; kẻ thành ký-giả tên tuổi, người nên luật-sư tài-danh.
Sau khi gia-nhập vào
đúng hàng-ngũ thích-hợp để phụng thờ Chính-Nghĩa Quốc-Gia, trải qua mấy chục
năm trời gắn bó với Lực-Lượng Cảnh-Sát & Công-An Việt-Nam Cộng-Hòa, anh
Nguyễn Văn Long tận-tụy phục-vụ, và đã nổi tiếng là một trong số những cấp chỉ-huy
tích-cực, cương-trực và liêm-khiết nhất trong Ngành.
TÔI về lại Miền Trung
đảm-trách Giám-Ðốc Ngành Ðặc-Cảnh tại Bộ Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I vào ngày 26
tháng 9 năm 1973. Tìm gặp lại các bạn cũ, thuộc lứa tuổi trên tứ-tuần, đã từng
giữ các chức-vụ Trưởng Ty Công-An, Cảnh-Sát-Trưởng, Trưởng Ty CSQG trở lên, từ
thời Bảo-Ðại qua thời Ðệ-Nhất Cộng-Hòa đến nay, mà hiện còn lại tại Vùng này,
tôi thấy chỉ có 6 người, trong đó có anh Nguyễn Văn Long.
Một số chưa có chức-vụ
tương-xứng thì tôi nâng lên hoặc hợp-thức-hóa cho làm Phó Giám-Ðốc, Chánh-Sở. Anh Long thì đã là một Chánh-Sở nắm Sở
Tư-Pháp rồi, nên tôi không giúp gì về chức-vụ mà chỉ giúp về công-vụ mà thôi;
những tin-tức về hình-sự mà tôi có được, thay vì xếp bỏ thì tôi chuyển qua cho
anh. Tuy nhiên, đáp lại, chính anh giúp tôi nhiều hơn, rất nhiều, cả trong
công-tác cụ-thể hằng ngày lẫn về phương-diện tinh-thần.
Anh Long tự-nguyện
làm thêm nhiệm-vụ chính-trị -- diệt-Cộng -- ngoài phần-vụ chính của anh là truy
lùng kẻ phạm-pháp về mặt hình. Là một
tay cừ trong giới tình-báo cũ, anh đã nhân làm công-tác sưu-tầm về hình-phạm mà
thu-thập thêm tin-tức về quốc-phạm, và đã cung-cấp cho Ngành Ðặc-Cảnh của tôi
nhiều manh-mối về cộng-sản nằm vùng.
Theo anh quan-niệm, đã là Cảnh-Sát Quốc-Gia, với chức-năng an-ninh trật-tự,
thì phải góp phần trực-tiếp hoặc gián-tiếp vào lãnh-vực tình-báo, để phát-hiện
và loại-trừ cộng-sản -- mà trong giai-đoạn hiện-tại thì đối-tượng Việt-Cộng phải
là ưu-tiên hàng đầu -- để bảo-vệ và duy-trì an-ninh & trật-tự chung. Anh không thể chỉ tự bằng lòng với phận-sự tiễu-trừ
tội-phạm xã-hội, mà phải tham-gia phần nào, trong khả-năng mình, vào trách-nhiệm
thanh-trừng giặc loạn để giữ nước và cứu dân.
Qua thái-độ và hành-động
chính-đáng của mình, trung-tá Nguyễn Văn Long đã mặc-nhiên gửi một thông-điệp,
một lời nhắn-nhe tâm-huyết, đến những anh+chị+em đồng-nghiệp nào mà vì lý-do
nào đó đã tự cho mình là Cảnh-Sát Sắc-Phục thì không dính-dấp gì về tình-báo,
nhất là Cộng-Tặc Miền Nam và Cộng-Sản Bắc-Việt Xâm-Lăng.
Trung-Tâm Huấn-Luyện
Tình-Báo của tôi nằm trên bãi biển Sơn-Chà, tuốt bên kia bờ Hàn-Giang. Lần nào khai-giảng hoặc bế-giảng Khóa nào
Nhà-Trường cũng đều có mời các cấp chỉ-huy cả Ðặc-Cảnh lẫn Sắc-Phục đến dự. Về sau, tôi bỏ bớt tiệc mãn-khóa, chấm dứt
tình-trạng bắt các học-viên góp tiền.
Không còn tiệc-tùng, thì phần lớn quan-khách ngớt vãng-lai, viện cớ bận
việc và đường quá xa; nhưng anh Long vẫn tiếp-tục đến dự -- anh nói -- để yểm-trợ
tinh-thần chung.
Về mặt tư-pháp,
trung-tá Nguyễn Văn Long đã thực-hiện đúng khẩu-hiệu "pháp bất vị
thân". Ngay đối với chính đồng-nghiệp, bất-cứ nhân-viên Cảnh-Sát nào mà phạm
tội hình-sự là anh truy-tố ra Tòa thẳng tay -- anh nói -- để lành-mạnh-hóa nội-bộ,
và nêu gương thượng-tôn luật-pháp cho người dân. Bởi thế, anh bị nhiều người gọi bằng cái tên
"Long Lý", ý nói anh chỉ biết chiếu-lý chứ không vị-tình.
Sau Hiệp-Ðịnh Paris
1973, tình-hình xã-hội Miền Nam thật là rối-ren. Bên ngoài thì Cộng-Sản Bắc-Việt công-khai ồ-ạt
đổ thêm quân và chiến-cụ, vũ-khí vào tấn-công ta; bên trong thì các tổ-chức
xưng-danh đối-lập và lợi-dụng tự-do quá-khích, tiếp tay với các phần-tử nằm
vùng, ngày càng gia-tăng mức-độ và cường-độ gây hỗn-loạn trật-tự và làm
suy-thoái tinh-thần các lực-lượng Quốc-Gia.
Về mặt chính-trị, CSQG vừa phải đối-phó với các bộ-phận Ðảng, Mặt-Trận,
Nhà-Nước và Nhân-Dân của CSXL và "Việt-Cộng", vừa phải chống-đỡ các
phần-tử, phe nhóm chủ-bại và nội-ứng cho kẻ thù.
Về mặt tệ-đoan xã-hội,
ung nhọt tràn lan khắp nơi. Riêng về nạn
dịch nhũng-nhiễu tham-lam, công-tác đương-đầu đã gặp quá nhiều khó-khăn. Hầu như kẻ nào làm bậy cũng đều nấp dưới
danh-nghĩa của một chính-đảng, tìm sự che-chở của một đoàn-thể hay một số cấp
lãnh-đạo nào đó trong Chính-Quyền. Ðụng
vào họ, dù họ là kẻ phạm-pháp, có thể là tự rước lấy tai-họa vào mình. Thế mà anh Long đã dám xúc-tiến điều-tra, lập
hồ-sơ truy-tố nhiều nhân-vật đáng sợ.
Nhiều vụ lắm. Và vụ mà tôi thích
nhất là vụ "tiền trợ-cấp dân Quảng-Trị tị-nạn". Ðại-khái như sau:
Ðầu năm 1975, đồng-bào
từ Tỉnh Quảng-Trị bắt đầu di-tản. Chính-Quyền Trung-Ương tổ-chức đón tiếp và cứu-trợ
họ tại Trại Tạm-Cư Ðà-Nẵng. Trên thực-tế,
có người đã vào, có người vẫn còn ở lại ngoài kia. Do đó, có một tổ-chức quy-mô đứng ra lập hồ-sơ
ma để lãnh các món cứu-trợ di-tản nhiều hơn bội-phần: tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men,
áo+quần, giường+mùng chăn+chiếu, xi-măng, tôn, v.v..., cấp cho cả đồng-bào ở Trại
lẫn đồng-bào vẫn còn ở Tỉnh cũ mà được chứng-nhận là đã nhập Trại Tạm-Cư, do
ngân-sách của Bộ Xã-Hội đài-thọ. Thậm
chí, họ còn lập thêm hồ-sơ theo diện tị-nạn, dành cho đồng-bào dời-cư từ các xã
bất-an và "xôi-đậu" đến định-cư tại các xã an-ninh, để lãnh thêm loại
trợ-cấp này vốn áp-dụng chung cho bất-cứ vùng quê nào. Chưa thỏa, họ còn chứng-nhận cho cũng những đồng-bào
ấy là nguyên cơ-sở của Việt-Cộng ở vùng địch kiểm-soát, nay bỏ kẻ thù về với Quốc-Gia,
để hưởng các khoản trợ-cấp loại này do Bộ Chiêu-Hồi cung-cấp định-kỳ,
v.v... Ngoài ra, người dân di-tản cũng bị
lôi-cuốn vào tình-trạng hỗn-tạp chung bên ngoài Trại, lẫn-lộn giữa hợp-pháp và
bất-hợp-pháp. Một số trở thành nhân-viên
Chương-Trình Áo Xanh, do một tổ-chức xã-hội Hoa-Kỳ tài-trợ, cung-cấp việc làm
cho người lao-động thất-nghiệp. Một số
cũng là hội-viên Hội Cựu-Chiến-Binh và Dân-Phế, quy-tụ lính cũ đâu từ thời
Pháp-thuộc, thời Nhật chiếm, thời kháng-Pháp, thời Bảo-Ðại, và nạn-nhân các vụ
tai-nạn lưu-thông, ẩu-đả, hủy-hoại thân-thể, tàn-tật bẩm-sinh, vân vân, nhưng
cũng được lập hồ-sơ và lãnh đều đều từ một tổ-chức nhân-đạo Hoa-Kỳ những món viện-trợ
tiền mặt, thực-phẩm, thuốc-men, đồ dùng, v.v...
Hơn nữa, một số giả-danh là Thương-Phế-Binh, cưỡng-thu "hụi chết"
tại các hàng quán, bến xe. Phanh-phui vụ
này lòi ra vụ kia. Tóm lại, một người
lãnh nhiều trợ-cấp với nhiều tư-cách trong nhiều hoàn-cảnh khác nhau; nhưng chỉ
lãnh được một ít, còn thì nạp vào túi riêng của bọn gian+tham.
Vụ án đã làm chấn-động
dư-luận, vì dính đến nhiều cấp+chức thuộc nhiều giới, ngành, từ cấp Tổ, Toán,
Khóm, Thôn, Xã, Phường, lên đến Quận, Tỉnh, vào thấu Sài-Gòn, là những phần-tử
chứng-nhận láo, chấp-thuận bừa, do đó, đã phí-phạm công-quỹ và phá-hoại
chính-sách của Trung-Ương.
TRONG việc móc-nối đầu
mối, nuôi-dưỡng đường dây, lắm lúc nhân-viên Ðặc-Cảnh phải giao-tiếp với những
kẻ bất-lương. Bởi thế, đã có một số Trưởng
Mối bị trừng-phạt oan, vì phía Hình-Cảnh nghi là đồng-lõa hay đỡ đầu. Sau khi có thêm bộ-phận An-Ninh Cảnh-Lực, Ðặc-Cảnh
càng gặp nhiều khó-khăn hơn, đến nỗi Tư-Lệnh Ðặc-Cảnh Trung-Ương hồi đó là đại-tá
Nguyễn Mâu đã phải lên tiếng phản-đối công-khai trước một đại-hội toàn-quốc, do
Tổng Giám-Ðốc chủ-tọa, nhưng chưa ngã-ngũ ra sao.
Với tôi, anh Long đã
chịu nhượng-bộ: nếu gặp nhân-viên Ðặc-Cảnh liên-can đến các vụ hình, anh để tùy
tôi xét trước, để tránh oan-ức, trở-ngại cho công-tác chìm. Ấy là nhờ anh hiểu rõ phương-thức tình-báo và
đặt nhu-cầu chống Cộng lên hàng ưu-tiên. Ðó là quyết-định linh-động duy-nhất
trong cương-vị Chánh Sở Pháp-Cảnh của anh Long.
KỶ-NIỆM đậm nét nhất
trong đời tôi về anh Long là vụ rút lui ra khỏi Ðà-Nẵng, thành-lũy cuối cùng của
Quân-Khu I Việt-Nam Cộng-Hòa.
Lúc ấy vào khoảng 10
giờ tối ngày 28-3-1975.
Trên máy vô-tuyến
truyền-tin thuộc hệ Cảnh-Sát Sắc-Phục nội-thành Ðà-Nẵng, tôi nghe một đài gọi
đài trung-ương, nhưng không có ai trả lời.
Lát sau, có một đài khác cất tiếng: "Ðừng gọi vô-ích, bọn chúng chạy
hết cả rồi!" Tôi bèn hỏi đài hồi
nãy, thì được báo-cáo là có nhiều người ăn mặc lộn-xộn, vũ-khí cầm tay, đang
nép hai bên lề đường từ hướng Hòa-Cường tiến vào.
Tôi dùng làn sóng của
hệ Ðặc-Cảnh ra lệnh cho Sở Tác-Vụ Vùng và Sở Ðặc-Cảnh sở-tại đối-phó, đồng-thời
gọi máy điện-thoại cho đại-tá Nguyễn Xuân Lộc, Tư-Lệnh Cảnh-Lực Vùng I, lúc ấy
đang cùng có mặt với các Chánh-Sở Vùng và một số Chỉ-Huy Cảnh-Lực Tỉnh tập-trung
tại đây.
Lát sau, anh Long đến
ngồi tại phòng truyền-tin của Ngành Ðặc-Cảnh Vùng -- nơi đây có máy âm-thoại của
cả 2 hệ nổi+chìm địa-phương lẫn hệ toàn-quốc, và máy điện-thoại bưu-điện, điện-thoại
quân-sự -- cách dăm mười phút lại gọi hỏi tôi tình-hình thế nào.
Vì máy quá bận, tôi
khuyên anh vào phòng-giấy của đại-tá Lộc để cùng theo-dõi diễn-biến tình-hình
chung.
Khoảng sau 11 giờ
đêm, từ đài Ðặc-Cảnh Vùng I trung-tá Long gọi tôi. Lần nầy tôi nghe giọng anh run lên, lời-lẽ trịnh-trọng
khác thường: "Tôi xin mời ông Phụ-Tá
đến ngay để tổ-chức phòng-tuyến và chỉ-huy đội-ngũ tử-thủ cùng với anh+em chúng
tôi!" (Tử-thủ là lời cam-kết của trung-tướng Ngô Quang Trưởng đọc trên Ðài
Phát-Thanh Ðà-Nẵng suốt chiều hôm nay).
Tôi hỏi về đại-tá Lộc
thì anh đáp gọn với giọng bực-tức và chán-chường: "Các ngài đào-ngũ hết rồi!"
Anh Long kể lại với
tôi là anh được lệnh, cùng với mọi người có mặt tại trụ-sở Vùng -- Chánh-Sở các
Sở, Chỉ-Huy của một số Tỉnh, có cả mấy viên đại-tá quân-đội -- theo đại-tá Lộc
xuống bến Giang-Cảnh, lên tàu Giang-Cảnh, rời bến hướng ra biển Ðông.
Anh hỏi đi đâu thì đại-tá
Lộc trả lời: "Chúng ta di-tản vào
Nam!" Anh thấy máu uất xông lên đỉnh
đầu, la lên: "Giặc chưa tấn-công,
thuộc-viên vẫn còn ở lại, mà cấp chỉ-huy đã lén-lút bỏ đi như thế này là
hèn!" Lộc cố giải-thích: "Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn đã rút đi rồi. Trong tình-huống này chúng ta đành phải phụ
lòng anh+em mà thôi!" Long bèn rút
súng, nhìn thẳng vào mặt từng người với vẻ khinh thường, và bảo tàu ghé vào bờ
cho anh trở lui.
Và anh đã về trụ-sở,
để cùng chiến-đấu, sống chết có nhau với anh+em.
TÔI tin-tưởng và
kính-phục anh Long vô cùng; nhưng tôi thấy rõ là nếu đến sở thì sẽ dính kẹt ở
đó, khó lòng điều-động hoạt-động bên ngoài, nên nói là tôi bận họp. Anh xin mượn
tôi một máy vô-tuyến cầm tay, và đòi đến họp với tôi.
Tôi kéo thiếu-tá Ngô
Phi Ðạm, Chánh Sở Tác-Vụ, ra xe. Ðến bến
Bạch-Ðằng quả thấy xe Jeep xanh+trắng và ô-liu bỏ đậu nghênh-ngang; gọi máy
vô-tuyến trên hệ Sắc-Phục đến đại-tá Lộc ở sở, ở nhà, không ai trả lời; tôi bèn
chỉ-thị Trung-Tâm Hành-Quân Ðặc-Cảnh báo-cáo sự-việc lên Trung-Ương.
Anh Long đã đến nhà
tôi, hỏi tôi ở đâu, tôi đáp là đến Ðặc-Khu, nhưng tôi đến Bộ Tư-Lệnh Quân-Ðoàn;
nơi đây vắng hoe. Anh hỏi, tôi đáp là
vào phi-trường, nhưng tôi đến Sở An-Ninh Quân-Ðội; nơi đây cũng chẳng còn
ai. Anh không gặp tôi, lại hỏi; và tôi lại
dối, tránh anh. Cứ thế mà tôi đến khắp
các nơi vốn là chỗ dựa cho niềm tin của dân-nhân.
Ðến sau nửa đêm thì cả
thành-phố đổ dồn qua cầu Trịnh Minh Thế để qua bến cảng, bãi biển Quận III, để
mong chạy vào Sài-Gòn. Tôi cùng Tác-Vụ, Thám-Sát Ðặc-Biệt, quan-sát xong
tình-hình bên đó, len lách trở về thì thoáng dưới ánh đèn pha thấy rõ hình-dáng
của anh, mặc cảnh-chiến-phục, gác khẩu M-16 ngang đùi, mặt-mày đỏ gay, tức uất
nhưng đầy cương-nghị, lái xe vụt qua.
ÐÓ là hình-ảnh cuối
cùng của trung-tá Nguyễn Văn Long, mãi mãi hằn sâu trong ký-ức tôi.
GẦN sáng, ngày
29-3-1975, Việt-Cộng pháo-kích hải-cảng, phi-trường. Mờ sáng, đặc-công từ hướng Núi Non-Nước bắt đầu
tấn-công vào. Ðến trưa, tôi gọi máy về
cho đại-úy Nguyễn Văn Tuyên, Chánh Sở Nghiên+Kế, lúc đó còn ngồi tại chỗ, ra lệnh
giải-tán Trung-Tâm Hành-Quân của Ðặc-Cảnh Vùng I, là bộ-phận sau rốt của Chính-
Quyền VNCH còn hoạt-động đến phút cuối cùng, và cho phép thuộc-viên tự tìm
phương-tiện thoát thân. Xế chiều, tôi mới
kiếm được chiếc thúng, rời bờ, liều-lĩnh trước các làn đạn pháo-kích của địch
và trực-xạ của chính bạn mình.
Và tôi không còn gặp
lại anh Long.
CÁI chết của trung-tá
Cảnh-Sát Nguyễn Văn Long làm tôi suy-nghĩ rất nhiều.
Anh đã phục-vụ dưới
nhiều chế-độ khác nhau, đảm-trách công-tác ở nhiều lĩnh-vực khác nhau, nhưng vẫn
giữ mình trung-chính khiết-liêm. Anh tuy
lớn tuổi nhưng vẫn trẻ-trung trong lối sống và trong công việc, không bị lứa trẻ
sau này vượt qua.
Trong lúc nước nhà
đang bị cộng-sản xâm-lăng, anh ý-thức được chúng là kẻ thù số một của toàn-dân,
sự-nghiệp chống Cộng phải là ưu-tiên số một của mọi người yêu quý Tự-Do, nên
anh phải góp phần vàọ Thành-quả chống Cộng của CSQG nói chung, là đã có lúc hạ
được nhiều tên cộng-tặc hơn cả con số chúng bị thiệt-hại trên chiến-trường, do
đó, anh tự nhận lãnh vào bản-thân mình một phần trách-nhiệm đối với đối-phương
về những tổn-thất mà chúng hứng chịu nặng-nề; nhưng trên tất cả là sự sụp đổ thảm-khốc
của Việt-Nam Cộng-Hòa, mà đối với Tổ-Quốc, Dân-Tộc, Lịch-Sử, và Thế-Giới, thì
cái trách-nhiệm vô cùng lớn-lao ấy nhất-định là của mọi người, trong đó có anh;
nên anh tự xử -- cũng như các anh-hùng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn
Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, vân vân -- để tạ tội với Tiền-
Nhân và Quốc-Dân, và để nói lên tinh-thần bất-khuất của người chiến-sĩ Tự-Do,
không chịu hạ mình đầu-hàng kẻ thù.
CÁI chết của anh Long
làm tôi hãnh-diện vô cùng. Tuy người chết
không mong được đời nhắc đến, nhưng bổn-phận của người sống là phải phát-huy những
tấm gương trí-dũng ngời sáng ấy, để nhờ đó mà mình tin-tưởng và phấn-khởi tiếp-tục
lo toan sự-nghiệp chung.
Bây giờ, đối với
toàn-dân, Nguyễn Văn Long không còn là một trung-tá, là một Chánh-Sở Tư-Pháp,
là một viên-chức An-Ninh, là những gì gì khác nữa ... mà anh đã là và vẫn còn
là đại-diện cho bất-cứ chiến-hữu ưu-tú nào, không phân-biệt cấp/bậc, chức-vụ,
ngành/nghề, hình-sự hay phản-gián, phái mạnh hay phái đẹp; mà anh đã vinh-quang
đi vào Lịch-Sử với tư-cách một anh-hùng của Dân-Tộc Việt-Nam nói chung và Lực-Lượng
Cảnh-Sát Quốc-Gia nói riêng.
LÊ XUÂN NHUẬN
Trong “Biến-Loạn Miền
Trung”
**********
QUỐC-GIA ĐỐI-LẬP
& CỘNG-SẢN NẰM VÙNG bài của LÊ XUÂN NHUẬN
QUỐC-GIA ĐỐI-LẬP
& CỘNG-SẢN NẰM VÙNG
NGUYỄN An Dân là chủ-nhiệm
kiêm chủ-bút đặc-san “Ðông Phương”, xuất-bản tại Ðà-Nẵng, đã phát-hành đến tập
III, mệnh-danh là Tiếng Nói của “Ðông-Phương Văn-Ðoàn”. Tổ-chức này cũng do y cầm đầu.
Với đặc-san trên, Dân
đã công-khai mạt-sát Việt-Nam Cộng-Hòa, đề-cao cộng-sản Việt-Nam, gay-gắt hơn cả
các đài phát-thanh Hà-Nội và Mặt Trận Giải-Phóng Miền Nam.
VÌ không thấy ngành
Thông-Tin của ta có biện-pháp gì, tôi bèn tìm cách bịt miệng cán-bộ tuyên-truyền
của Việt-Cộng này.
DÂN có một số
thân-nhân trực-hệ trong ban lãnh-đạo Liên-Khu-Ủy và Tỉnh-Ủy Việt-Cộng địa-phương,
thường-xuyên vào rừng, có mặt tại các địa-điểm tặc-phỉ tập-trung dân-chúng
tuyên-truyền & cưỡng-thu vật+tài, đồng-thời tham-gia “Lực-Lượng Hòa-Hợp
Hòa-Giải Dân-Tộc” của nhóm đối-lập Vũ Văn Mẫu, và hay lui tới các Chùa.
Dân chơi rất thân với
kỹ-sư Nguyễn Văn Bảy, Hiệu-Trưởng Trường trung-học Kỹ-Thuật Cao Thắng, là người
cũng dùng danh-nghĩa “Thành-Phần Thứ Ba” để chống Việt-Nam Cộng-Hòa. Chính Bảy che-chở cho Dân trong nhiều trường-hợp
Dân bị Cảnh-Sát chận xét dọc đường, suýt lộ tài-liệu Việt-Cộng mà y mang theo.
TÔI không tiện cho Ðặc-Cảnh
bắt Nguyễn An Dân về mặt chính-trị, vì nếu làm thế thì sẽ lộ ra các phần-tử
khác mà trong số đó có những điệp-viên cũng như mục-tiêu xâm-nhập của chúng
tôi.
Tôi giao cho Bộ Chỉ-Huy
Cảnh-Lực Thị-Xã Ðà-Nẵng giải-quyết về mặt pháp-lý, vì Dân ra báo mà không khai
trình với Bộ Nội-Vụ để xin phái-lai.
Dân bị bắt giam tại
Trung-Tâm Cải-Huấn Ðà-Nẵng, ở Chợ-Cồn.
Ðó là một cách chận đứng cái loa dấy loạn của y, đồng-thời bảo-vệ các lưới
phản-gián của ngành Ðặc-Cảnh chúng tôi.
NGÀY 25-8-1978, tôi bị
chúng đưa từ Trung-Tâm Lao+Cải “An-Ðiềm” về Trại Tạm-Giam “Kho Ðạn” (“Chợ Cồn”)
Ðà-Nẵng.
Việt-Cộng nhốt tôi
vào một buồng riêng gần cuối Khu B, bít kín mọi cửa, canh gác cẩn-mật. Mỗi ngày nhiều lần chúng dẫn tôi đi khai cung,
về vài trong những điệp-viên tôi đã gài vào nội-bộ của chúng mà mãi đến nay
chúng mới bắt đầu nghi-ngờ. Tôi thấy các
buồng kế tôi cũng bị bít kín, không nghe tiếng ồn nhiều người như những ngày đầu
sau cơn quốc-biến 1975; và bên trong khung lỗ rộng chừng một bàn tay cắt thủng ở
góc tấm tôn đóng chắn cửa sổ mỗi buồng, tôi thấy thấp-thoáng có một hoặc hai cặp
mắt tò-mò nhìn ra.
Sau đó ít hôm, Việt-Cộng
đưa vào giam chung với tôi hai nhà-sư trẻ; đó là Trần Văn Cúc và Hoàng Mộng
Xuân. Họ đã đội lốt nhà-sư để đi
tuyên-truyền, móc-nối, liên-lạc tiếp-xúc, hoạt-động chống Cộng từ nội-thành ra
ngoại-ô. Bị bắt, bị đánh dã-man, họ chỉ
khai là đi tìm đường dây vượt biên để xin đi theo.
Hai anh Cúc &
Xuân đã cho tôi biết rõ hơn về một số biến-cố chính-trị đã xảy ra trong nước
nói chung, và tại Quảng-Nam/Ðà-Nẵng nói riêng, sau ngày cộng-sản cưỡng-chiếm Miền
Nam. Nổi bật nhất tại Tỉnh này là vụ kỹ-sư
Nguyễn Văn Bảy, nguyên Hiệu-Trưởng Trường Trung-Học Kỹ-Thuật “Cao Thắng”, người
đã lập nên “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng”, tổ-chức mật-khu trong rừng,
chiêu-mộ chiến-sĩ, và đã tấn-công vũ-trang vào một số cơ-quan & đơn-vị Việt-Cộng
quanh vùng để mở rộng phạm-vi kiểm-soát; nhưng nay đã bị Việt-Cộng huy-động
toàn-lực bộ-đội hành-quân đè bẹp, phá hủy căn-cứ, và bắt đem về biệt-giam cũng
tại Trại này, cùng với hằng trăm chiến-hữu cũng bị bắt tại chiến-khu, hoặc bị
truy bắt về sau.
NGÀY 25-12-1978, tôi
bị chuyển đến trại giam Hội-An. Tại đây,
chúng giam tôi chung với khoảng năm/sáu chục người, thuộc nhiều thành-phần khác
nhau: hình-sự, vượt biên, phản-động hiện-hành, và “kinh-tế”.
Tuy nhiên, có một thực-tế
mà Việt-Cộng không ngờ: đại-đa-số cán-bộ và bộ-đội bị bắt đều đã không được
cơ-quan hay đơn-vị của mình chước-miễn - đã bị cách-chức, tước lột quân-hàm,
khai-trừ khỏi Ðảng, và bị tì-vết lý-lịch - nên họ không còn tha-thiết gì đến
công-tác của ngành Công-An, chưa kể một số đã ra công-khai chống lại Ðảng và
Nhà-Nước. Nhờ thế, tôi đã nghe được khá
nhiều tin-tức ngoài đời.
NGÀY xưa, Tỉnh Quảng-Nam
có một lần đến năm danh-nhân được triều-đình Nhà Nguyễn phong là “Ngũ Phụng Tề
Phi”. Trong chiến-tranh Việt-Nam, Tỉnh
này cũng có rất nhiều phần-tử hoạt-động đắc-lực cho Việt-Cộng nên được Ðảng và
Nhà-Nước khen là “Quảng Nam Ði Ðầu Diệt Mỹ”.
Nhưng các tổ-chức quần-chúng và cá-nhân có tinh-thần Quốc-Gia thì chống
Cộng quyết-liệt vô-cùng.
Ngay sau khi Việt-Cộng
bắt giam các công-chức và quân-nhân của chế-độ cũ, đại-đức Từ Toại và giáo-sư
Phạm Văn Bình đã cùng các bạn trương biểu-ngữ, dán bích-chương, và rải truyền-đơn,
tổ-chức một cuộc biểu-tình tuần-hành có đông đồng-bào tham-dự, qua các đại-lộ
trong Thành-Phố Ðà-Nẵng. Có nhiều vụ ném
lựu-đạn vào Công-An, bộ-đội; nhiều vụ chống-cự bằng vũ-lực vì bị tịch-thu tài-sản
qua các chiến-dịch “đánh tư-sản mại-bản”, “cải-tạo công+thương-nghiệp”, “bài-trừ
văn-hóa-phẩm nô-dịch và đồi-trụy”. Ðồng-bào
ào ào kéo nhau đi vượt biên, vượt biển, giống như tại các nơi khác trên khắp Miền
Nam. Người ta đồn miệng với nhau là
trung-tướng Ngô Quang Trưởng đã đem Phục-Quốc-Quân về đánh vào biên-giới; phe
ta kiểm-soát lưu-thông qua các đèo+núi trên Quốc-Lộ số 1 và nhiều vùng ngoại-ô;
trực-thăng Hoa-Kỳ đến bốc một số nhân-vật trọng-yếu; tàu đổ-bộ của Ðệ-Thất Hạm-Ðội
nhiều lần vào bờ tấn-công các Ðồn Biên-Phòng; dân đánh cá thỉnh-thoảng có gặp
tàu ngầm của Mỹ còn lảng-vảng ngoài khơi.
Truyền-đơn chống-Cộng nhiều nhất là của “Ðảng Hắc-Long” (Vùng I), “Ðảng
Thanh-Long” (Vùng II), “Ðảng Bảo-Long” (Vùng III và Vùng IV).
Ðúng ba năm sau ngày
Ðà-Nẵng thất-thủ, ba tiếng nổ long trời lở đất từ sân-bay Ðà-Nẵng phát ra, làm
rung chuyển cả thành-phố và các vùng phụ-cận, tạo nên một biển lửa kinh-hoàng,
gây thiệt-hại nặng-nề cho các cơ-sở hoạt-động không-phòng, máy-bay, và cả
nhân-mạng của đơn-vị Không-Quân Việt-Cộng đồn-trú tại sân-bay chiến-lược lớn nhất
Miền Trung này, khiến người dân địa-phương nhớ lại ba tiếng nổ lớn cũng tại
phi-trường này một tháng trước ngày Vùng I rơi vào tay Cộng-quân. Lần ấy, cơ-sở nội-tuyến Việt-Cộng đã phá-hoại
ba hầm bom+đạn của ta mà vị-trí thiết-lập thì dù kiên-cố bao nhiêu người ngoài
cũng có thể biết được; và sau đó thì Cơ-Quan E6 của tôi đã tìm ra thủ-phạm, là
hai hạ-sĩ-quan Không-Quân, mà Ngành Ðặc-Cảnh đã nghi-ngờ từ lâu. Lần này, sau khi đối-phương chiếm được
sân-bay tối-tân của ta, các chuyên-gia tài-giỏi nhất của Liên-Xô đã dùng tất cả
những phương-tiện và khả-năng khoa-học kỹ-thuật tiên-tiến nhất của thế-giới cộng-sản
để rà tìm xem thử Việt-Nam Cộng-Hòa có chôn giấu hoặc gài bẫy bom+mìn, máy-móc
gì dưới đất và xung quanh sân-bay hay không, mà không tìm thấy, và đã cải-tổ mọi
cơ-cấu phòng-bị cho thật an-toàn; thế mà, ba hầm bí-mật bom lân-tinh, nằm yên
ngay trong sân-bay được chúng bảo-vệ nghiêm-ngặt ấy suốt ba năm nay, đã bất-thần
phát nổ, như tiếng sấm lệnh khẳng-định hùng-hồn sự trường-tồn của Chính-Nghĩa Tất-Thắng
và thúc-giục toàn-dân đứng lên.
Chính trong tình-hình
sôi bỏng ấy, nhiều tổ-chức chống-Cộng đã thành-hình; nhiều cá-nhân chống-Cộng
đã đơn-phương ra tay; và không ít anh-hùng ái-quốc đã hy-sinh.
“Việt-Nam Dân-Tộc
Cách-Mạng Ðảng” là tổ-chức lớn mạnh hơn hết, có tầm hoạt-động bí-mật lấn ra thấu
Huế và vào tận các Tỉnh phía Nam, có chiến-khu công-khai làm căn-cứ-địa xuất-phát
các chiến-dịch giải-phóng lĩnh-thổ, giải-thoát đồng-bào.
Ấy thế mà...
NGÀY 20-4-1982, Việt-Cộng
đưa tôi từ Trại “Thanh-Liệt”, Hà-Nội - sau khi điều-tra về các điệp-vụ mà tôi
đã tổ-chức tại hai nước cộng-sản Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi - về lại Tỉnh Quảng-Nam,
và giam tại Trại “Hội-An”.
Tại đây, tôi được biết
là kỹ-sư Nguyễn Văn Bảy, cùng với năm chiến-hữu khác, trong Ban Lĩnh-Ðạo “Việt-Nam
Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng”, đã bị kết án tử-hình trong một “phiên tòa điển-hình”,
và liền sau đó đã bị hành-quyết, tại Ðà-Nẵng.
Trong số những người
bị kết án tử-hình trong vụ này, có tiến-sĩ Nguyễn Nhuận, nguyên giáo-sư tại Viện
Ðại-Học Huế, cũng thuộc một tổ-chức chống Cộng khác ở Tỉnh Thừa-Thiên. Hằng chục người khác bị kết án tù chung-thân
hoặc hai mươi năm; số bị tù ngắn hạn hơn thì rất nhiều.
NGÀY 20-4-1985, tôi bị
đưa từ Trại “Hòa-Sơn” - một trại rộng lớn mới được dựng lên trên lĩnh-thổ Huyện
Hòa-Vang của Tỉnh Quảng-Nam, gần Thành-Phố Ðà-Nẵng - về lại Trại Lao+Cải
“Tiên-Lãnh I”.
Cùng đi chung với
tôi, có một tù-nhân chống nạng khập-khiễng được dìu từ Khu khác ra, bế nâng lên
xe.
Chúng tôi ngồi sát
bên nhau trên ghế sau, hai tên Công-An ngồi kèm hai bên. Tên Công-An Trưởng Toán ra lệnh cho chúng tôi
và dặn hai gã kia kiểm-soát để chúng tôi không được nói chuyện hoặc ra dấu-hiệu
gì với nhau.
LÚC đến địa-phận Huyện
Tiên-Phước, xe bị lún bánh ở một đoạn đường đất đỏ ngập nước. Cả Trưởng-Toán lẫn hai tên Bảo-Vệ đều xuống lội
lầy đẩy xe, trong lúc lái-xe tăng ga rú máy, mà xe vẫn không lên được. Tên Trưởng-Toán bèn ra lệnh cho tôi xuống xe
trước, rồi quay lại bế đỡ người bạn tù đồng-hành của tôi xuống xe, đến đợi ở một
mô đất cao bên vệ đường. Vì đường ngập
sình, vả lại anh-ta cũng nhẹ, nên tôi bế thẳng anh-ta đến đặt ngồi trên mô ấy,
rồi tôi cũng ngồi xuống theo, để cho hai tên Bảo-Vệ trói chúng tôi lại với nhau
kẻo sợ chúng tôi chạy trốn.
Trong lúc toán
Công-An ấy xúm lo đưa xe lên khỏi vũng lầy, người bạn-tù của tôi cúi mặt xuống
đất, giả-vờ quan-sát cái chân bị đau, hỏi tôi: “Có phải anh là Lê Xuân Nhuận
không?” Tôi cũng nghiêng đầu, làm bộ
đang nhìn ngó vào chỗ khác, trả lời: “Vâng.
Nhưng lâu ngày quá, tôi chưa nhận được ra anh là ai.” Anh-ta tự giới-thiệu: “Tôi là Nguyễn An Dân.”
Ngạc-nhiên, tôi quay
mặt lại nhìn vào đôi mắt anh-ta. Anh-ta
nói tiếp: “Tôi nhìn thấy anh bị chúng dẫn
đi hỏi cung, hằng ngày đi qua trước buồng của tôi, trong năm 1978; hồi đó chúng
ta cùng ở Khu B, Trại Chợ-Cồn. Tôi hỏi
các anh ở các buồng bên mới biết tên anh.
Trước năm 1975, anh đã...”
Anh-ta nghẹn-ngào
không nói được thêm. Tôi thấy rõ hai
dòng lệ ứa ra từ đôi mắt đen to tròn của anh-ta.
ÐẾN Trại “Tiên-Lãnh
I”, ngẫu-nhiên Nguyễn An Dân và tôi bị giam chung với nhau trong một buồng nhỏ
thuộc dãy cách-ly. Nhờ thế, tôi đã biết
được mối quan-hệ sau này giữa Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn An Dân.
NGUYỄN An Dân quả thật
là một cán-bộ Việt-Cộng nằm vùng, cán-bộ chứ không phải chỉ là cơ-sở thường. Thân-nhân lôi cuốn, các phần-tử cộng-sản
quan-trọng khác động-viên và chỉ-đạo. Ðối-phương
giao cho Dân công-tác vận-động trí-thức, thanh-niên, sinh-viên, học-sinh, và bất-cứ
thành-phần nào khác có thể được, từ Tỉnh Quảng-Nam & Thị-Xã Ðà-Nẵng ra đến
các địa-phương xung quanh, kể cả và nhất là Thủ-Ðô Sài-Gòn của Việt-Nam Cộng-Hòa. Dân đã vào các mật-khu của Việt-Cộng, nhiều
nơi, nhiều lần, nên am-thạo địa-hình địa-vật của vùng rừng núi Tỉnh Quảng-Nam,
nơi trú đóng của Ðảng-Ủy Liên-Khu V, Quân-Ủy Quân-Khu V, cũng như Tỉnh-Ủy Tỉnh
Quảng-Nam Ðà-Nẵng của Cộng-Sản Việt-Nam.
Ở vùng Quốc-Gia, Dân
tổ-chức văn-đoàn “Ðông-Phương” như một đảng chính-trị, có hệ-thống liên-lạc chỉ-đạo
tại các Tỉnh và Thành+Thị lớn trong đó có Sài-Gòn và Huế, là những nơi có các Tổng-Hội
Sinh-Viên đang bị một thiểu-số thuộc thành-phần thân-Cộng giật dây. Anh-ta thường-xuyên đi tiếp-xúc với các
chi-nhánh Văn-Ðoàn địa-phương mà địa-chỉ đã được công-bố trên đặc-san nói
trên. Anh-ta còn len-lỏi vào làm thư-ký
kế-toán xuất+nhập kho cho nghiệp-đoàn các nhà thầu gạo Ðà-Nẵng và Miền Trung
bên cạnh Tổng-Cục Tiếp-Tế thuộc Bộ Kinh-Tế, vào Sài-Gòn nhận chở gạo ra phân-phối
cho các Tỉnh Miền Trung, nên có lý-do hợp-pháp để có mặt và nhân đó hoạt-động
cho cộng-sản tại các nơi nói trên.
NGUYỄN An Dân chưa học
hết bậc trung-học. Hành-trang văn-hóa của
anh-ta chỉ là một mớ lý-thuyết Mác+Lê, đặc-biệt là cuốn “Từ-Ðiển Triết-Học” của
Liên-Xô được dịch in bằng chữ Việt. Phần
đông sinh-viên Việt-Nam Cộng-Hòa, nhất là sinh-viên Văn-Khoa, vốn học triết-học
một cách khái-quát và tài-tử, đã bị anh-ta hớp hồn. Bên ngoài, khi đề-cập đến sinh-viên, nhiều
người chỉ nghĩ đến Huỳnh Tấn Mẫm, xem Mẫm là phần-tử cộng-sản lãnh-đạo
sinh-viên, kể cả sau quốc-nạn 30-4-1975; nhưng trên thực-tế thủ-lãnh chính là
Nguyễn An Dân.
(Một cán-bộ thuộc Tỉnh-Ủy
cộng-sản Quảng-Nam Ðà-Nẵng và thường-trú ở ngoài này mà cầm nắm mọi sinh-hoạt của
sinh-viên ở Sài-Gòn: điều đó không phải là ngoại-lệ duy-nhất.
Một trong nhiều cán-bộ
Công-An Việt-Cộng thuộc Ðảng-Ủy Liên-Khu V và Tỉnh Quảng-Nam Ðà-Nẵng mà tôi đã
có tìm cách móc-nối trước đây, là Trần Ðăng Sơn33 : sau ngày Sài-Gòn thất-thủ,
Sơn là trung-tá, Phó Trưởng Ty Công-An Việt-Cộng Tỉnh Quảng-Nam Ðà-Nẵng, mà
cũng vào hoạt-động tại Sài-Gòn với đầy-đủ quyền-hành đối với dân-chúng sở-tại cứ
y như trên lãnh-thổ của Tỉnh mình.
Bên ta cũng thế, dưới
thời Ðệ-Nhất Cộng-Hoà, đã có “Ðoàn Công-Tác Ðặc-Biệt Miền Trung” xuất-phát từ
Huế mà hoạt-động bao gồm cả Sài-Gòn lẫn vùng xung quanh.
Sở-dĩ VC thì từ Ðà-Nẵng
vào, chứ không phải từ Huế vào như bên ta, là vì Huế/Thừa-Thiên thuộc Liên-Khu
Tư, tức thuộc “Phiá Bắc”, còn Ðà-Nẵng/Quảng-Nam thuộc Liên-Khu V thì là đơn-vị
địa-đầu của “Phía Nam” mà Trung-Ương Ðảng dùng làm bàn đạp tiến vào Miền Nam).
Sau ngày 30-4-1975,
Việt-Cộng chỉ để lại một mình Huỳnh Tấn Mẫm làm vật trang-trí với tư-cách đại-diện
sinh-viên đồng-chủ-tọa trong chủ-tọa-đoàn các buổi lễ công-cộng của chúng, còn
thì lùa hết sinh-viên của chế-độ cũ vào rừng hoang, dưới danh-nghĩa “Thanh Niên
Xung Phong”.
Tất cả nam+nữ
sinh-viên đều bị đoàn-ngũ-hóa, sung vào các Ðoàn, Liên-Ðoàn, giã-từ học-đường,
gia-đình, thành-phố Sài-Gòn, đi khai-hoang lập-trại trong rừng, bắt đầu sống cuộc
đời công-nhân lưu-đày vô-hạn-kỳ. Ðó là
chính-sách của Ðảng. Và Nguyễn An Dân là
Chỉ-Huy-Trưởng Tổng-Liên-Ðoàn các đơn-vị cựu tinh-hoa tuổi trẻ ấy của Miền Nam.
QUA năm 1977, Việt-Cộng
chuẩn-bị tấn-công Cam-Pu-Chia. Chúng đẩy
mạnh công-tác bắt thanh-niên thi-hành nghĩa-vụ quân-sự, tăng-cường các sư-đoàn,
và dự-định quân-sự-hóa tổ-chức “Thanh Niên Xung Phong”. Chúng viện cớ đề-bạt Nguyễn An Dân ra Hà-Nội
học lớp đào-tạo cán-bộ Khoa-Học Kỹ-Thuật cao-cấp để đưa một sĩ-quan bộ-đội đến
thay-thế Dân tại Bộ Chỉ-Huy Tổng-Liên-Ðoàn ở Sài-Gòn.
Bất-mãn, Dân bỏ học,
về Quảng-Nam Ðà-Nẵng nhận một chức-vụ trong guồng máy Nhà-Nước địa-phương.
Và anh-ta đã gặp lại
Nguyễn Văn Bảy tại đây.
CHỈ một thời-gian ngắn
sau ngày cộng-sản cướp chính-quyền, nhà trí-thức Nguyễn Văn Bảy, trước kia đứng
núi này trông núi nọ, nay đã thấy rõ thực-chất của chế-độ chuyên-chính vô-sản rồi. Bảy bí-mật liên-kết với các thân-hữu cũ - những
giáo-sư đại-học có sẵn uy-tín với giới sinh-viên, những nhà hoạt-động chính-trị
có nhiều cơ-sở đảng-phái dưới quyền, những nhà tu-hành được giới tín-đồ tin
yêu, ở Ðà-Nẵng, Huế, Quảng-Nam, và nhiều Tỉnh khác - tổ-chức một lực-lượng
vũ-trang quy-mô, chủ-xướng khởi-nghĩa toàn-dân.
Trong lúc đó, nhà-văn
nhà-báo Nguyễn An Dân, vốn tin-tưởng vào một chủ-nghĩa lý-tưởng mà lý-thuyết đầy
hấp-dẫn, nay đã va chạm với thực-tế phũ-phàng, qua những quyết-định tàn-nhẫn của
bộ máy Nhà-Nước vận-dụng đúng chính-sách của Ðảng đối với từng tầng-lớp
nhân-dân trong đó có số đông là bà-con của anh-ta, và qua những nỗi-niềm
đau-xót của giới cựu sinh-viên Miền Nam mà anh-ta cảm-nhận được, trong những
canh khuya cởi-mở tâm-tình, sau những ngày và đêm dài khắc-khổ sinh-hoạt
chung. Món ăn Quốc-Gia, đượm mùi “tư-bản
chủ-nghĩa” và “cá-nhân chủ-nghĩa”, đã nuôi lớn con người anh-ta, với một tâm-hồn
lãng-mạn và tự-do.
Ðến nay thì Nguyễn An
Dân đã dứt khoát chọn con đường đối-nghịch.
Anh-ta tâm-sự với Nguyễn Văn Bảy; và đôi bạn cũ bây giờ đóng lại vai trò
xưa, nhưng trên chiến-tuyến khác, và cả hai đều quyết-liệt trên một bình-diện rộng
lớn hơn và trong một hoàn-cảnh khắc-nghiệt hơn.
Với tư-cách là một đảng-viên trung-kiên, có thành-tích quá-khứ nằm vùng
hoạt-động đắc-lực và đã từng bị đối-phương cầm tù tại địa-phương, bản-thân lại
có nhiều thân-nhân giữ chức-vụ lớn ở cấp cao, Dân đã bao-che cho Bảy và đồng-bạn,
giống như trước kia Bảy đã che-chở cho Dân.
Nguyễn An Dân đã lôi
cuốn được hằng trăm thanh-niên, Dân-Quân, Tự-Vệ, bộ-đội, và cả Công-An Việt-Cộng,
theo về với “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng” của Nguyễn Văn Bảy, mà tổng-số đảng-viên
đã lên đến vài nghìn. Các thành-viên gốc Việt-Cộng ấy đã đem theo nhiều loại
vũ-khí mà họ lấy được trước và trong khi thoát-ly, đủ để trang-bị cho hầu hết
các cá-nhân và đơn-vị chiến-đấu của Bảy.
Ðiều quan-trọng nhất là Dân đã hướng-dẫn cho Bảy cùng Ban Tham-Mưu chiếm
đóng và sử-dụng một căn-cứ lớn cùng năm căn-cứ phụ trong vùng mật-khu cũ của Việt-Cộng,
mà địch đã bỏ trống để đưa nhau về Thành sau ngày chúng chiếm được vùng Quốc-Gia.
Hoạt-động của “Việt-Nam
Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng” sau Tháng Tư năm 1975 cũng tương-tự như hoạt-động của
Việt-Cộng trước kia: từ mật-khu bung ra, lan rộng, khiến địch bị bận tay ở vùng
chúng chiếm, chỉ chống trả ở vùng ven chứ không tấn-công nổi vào vùng sâu.
MỘT hôm có một số
dân, trong đó có vài sĩ-quan bộ-đội Việt-Cộng, vào rừng tìm củi, lạc vào vùng
căn-cứ chính của Bảy mà không hay, và đã tranh-thủ thì-giờ ngủ lại tại chỗ qua
đêm để có thể tiếp-tục công việc sớm vào sáng hôm sau. Sáng sau, khi đi sâu
thêm vào trong, nhóm người này bị phát-hiện, nhưng được thành-viên của Ðảng ấy
thi-hành chính-sách nhân-đạo dẫn đường cho ra khỏi rừng.
Việc đó tới tai Việt-Cộng;
chúng bèn tổ-chức cho cán-bộ của chúng giả làm thường-dân đi kiếm củi, mật ong,
quế, len-lỏi vào gần để quan-sát, tìm hiểu thực-lực, các đường giao-liên, và hệ-thống
bố-phòng của tổ-chức đối-nghịch này.
Cuối cùng, Việt-Cộng
đã huy-động một lực-lượng quân-sự lớn, có sự tăng-viện của Bộ Quốc-Phòng và các
quân+binh-chủng cấp Quân-Khu: đường núi thì có xe tăng, xe thiết-giáp
xung-kích; đường sông thì có xuồng-máy đổ bộ; có cả đại-pháo và máy-bay yểm-hộ. Ðịch đồng loạt tấn-công vào căn-cứ chính và
hai căn-cứ phụ ở gần đó của kháng-chiến-quân.
Rủi thay, toàn-thể các cấp lĩnh-đạo và cán-sự cao-cấp của phe khởi-nghĩa
đều đang dự họp tại căn-cứ đầu-não của mình, nên rốt cuộc đã sa vào tay giặc,
cùng với các nam+nữ chiến-hữu sống sót và không di-tản kịp-thời. Ba căn-cứ kháng-chiến còn lại sau đó cũng bị
địch tràn ngập.
NGÀY cuối-cùng của
“Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng” cũng là ngày bùng nổ cuộc tranh-chấp công-trạng
và quyền-lực đã ngấm-ngầm từ lâu giữa các cấp lãnh-đạo Việt-Cộng Tỉnh Quảng-Nam/Ðà-Nẵng.
Ðảng-Ủy Liên-Khu V và
Quân-Ủy Quân-Khu V ẩn-trú trên lãnh-thổ của Tỉnh này. Sự an-toàn của các mật-khu này cũng như
thành-tích quấy-rối an-ninh vùng Quốc-Gia lâu nay phần lớn là do công của
Công-An. Người đứng đầu ngành Công-An Việt-Cộng
từ đầu cho đến sau 1975 ở đây là Hoàng Văn Lai.
Cầm nắm được tình-hình mọi mặt liên-quan đến “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng
Ðảng” của Nguyễn Văn Bảy để đi đến quyết-định tấn-công triệt-tiêu kẻ thù như
trên, cũng là do công của Công-An, của Hoàng Văn Lai.
Nhưng vào buổi sáng
ngày Việt-Cộng mở cuộc tấn-công mật-khu của Bảy, đại-tá Ðoàn Khuê, Chỉ-Huy-Trưởng
Tỉnh-Ðội Quảng-Nam Ðà-Nẵng, cũng là Tư-Lệnh cuộc hành-quân, đã dựa vào lực-lượng
quân-sự hùng-hậu của mình mà xuất-phát, không thèm đếm xỉa đến Hoàng Văn
Lai. Lai sợ bị Khuê giành mất công đầu,
nên ra lệnh cho lái-xe lái vượt lên trước, để nắm vai trò dẫn đường. Khi xe của Lai đang vượt lên thì Khuê ra lệnh
cho xe của mình ép qua, lấn xe của Lai lật nhào.
Lai chết tức-thời.
HOÀNG Văn Lai, một
cán-bộ cao-cấp, trung-kiên, và có nhiều công-trạng lớn đối với Ðảng và Nhà-Nước,
chết rồi mà vẫn chưa yên.
Ðảng họp, phân-tích sự-việc
theo lời tường-thuật của Khuê, kết-luận là Lai quá nặng đầu-óc cá-nhân chủ-nghĩa,
vi-phạm quy-luật hành-quân, suýt nữa phá hỏng kế-hoạch chung của tập-thể, nên
đã quyết-định trừng-phạt... cái xác, và cả cái hồn (?) của Lai.
Xác Lai tuy cũng được
chôn trong một nghĩa-trang, nhưng nằm ở một vị-trí sát cạnh cổng vào, ý nói hồn
Lai sẽ không nghỉ-ngơi mà phải tiếp-tục làm lính Công-An gác cổng cho
nghĩa-trang này.
NGUYỄN An Dân có góp
ý với Nguyễn Văn Bảy và Nguyễn Nhuận trong việc soạn-thảo Cương-Lĩnh Chính-Trị
cho “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng”.
Tiến-sĩ Nguyễn Nhuận cũng ở trong một tổ-chức chính-trị chống-Cộng khác
tại Huế; và tổ-chức ấy về sau cũng bị Việt-Cộng phá vỡ, các nhà lĩnh-đạo ngoài
đó cũng bị tuyên án tử-hình.
Nhuận bị hành-quyết
chung với nhóm Bảy trong này, vì địch tìm thấy nhiều đoạn thủ-bút của Nhuận
trong bản thảo Chính-Cương của “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng” và một bức ảnh
chụp chung cảnh một buổi họp bên trong mật-khu kháng-chiến của Tỉnh Quảng-Nam,
cho thấy cùng ngồi trên bàn chủ-tọa với Bảy là Nhuận và Dân. Tất cả sáu người trong chủ-tọa-đoàn đều bị kết
án tử-hình.
Nhưng chỉ có năm nạn-nhân
đã bị hành-quyết tại pháp-trường; còn Nguyễn An Dân thì không.
DÂN được thân-nhân,
toàn là cán-bộ lãnh-đạo nhiều ngành cấp cao, xin giùm, nên được giảm án xuống
tù chung-thân, rồi giảm thêm nữa xuống còn tù hai mươi năm. Tôi hỏi anh-ta: “Anh có cảm-tưởng gì khi
thoát án tử-hình?” Dân nhìn tôi để dò ý rồi mới trả lời: “Tôi hiểu là có dư-luận
nghi tôi được họ gài vào để hại anh Bảy.
Nhưng, anh hãy nhìn vào cái chân tôi đây nè!” Dân cởi quần dài, vì anh-ta thường-xuyên mặc
quần dài, để tôi nhìn thấy cái chân bên phải của anh-ta bị teo cơ, rút gân, và
co ngắn lại như một cành cây sấy khô.
Anh-ta chỉ vào một cái sẹo lớn, nói tiếp: “Tôi bị cùm chân suốt mấy năm
trời trong buồng biệt-giam. Lúc đầu, đôi chân sưng húp, rồi một cái nhọt bị tấy;
tôi khóc, tôi la suốt mấy ngày đêm mà họ chẳng thèm đoái-hoài. Chịu không nổi nữa, tôi phải tự mình móc thịt
giải-phẫu. Mất máu, kiệt sức; một chân
trở lại bình-thường, một chân teo rút như thế này đây. Nhưng tôi vẫn cứ bị cùm hai chân mãi cho đến
ngày anh Bảy và các chính-hữu vĩnh-viễn ra đi...”
ÐẦU năm 1985, Việt-Cộng
đề ra công-tác tổng-kết thành-tích mười năm bạo-hành ở Miền Nam này. Nguyễn An Dân được đưa về Ðà-Nẵng, để tập, rồi
đưa lên vùng căn-cứ cũ của “Việt-Nam Dân-Tộc Cách-Mạng Ðảng” để đóng một đoạn
dành cho vai-trò cũ của anh-ta trong một cuốn phim diễn lại cuộc tấn-công của
Việt-Cộng phá vỡ chiến-khu của Nguyễn Văn Bảy nói trên. Công-An đã thuê một nữ-võ-sư đóng vai một nữ-đại-úy
Công-An, sau khi xung-phong quật ngã một số nhân-vật kháng-chiến, dùng một thế
võ hiểm-độc tước súng và bắt sống được Nguyễn An Dân. Vì chân bị què nên Dân chỉ đứng dựa vào sau một
thân cây, diễn cảnh chĩa súng bắn ra đối-phương, rồi vừa chồm tới là bị tước
súng, còng tay. Nhưng đoạn phim ấy là
quan-trọng nhất, vì Dân là nhân-vật chủ-chốt duy-nhất còn sống-sót được sau biến-cố
lịch-sử ấy tại vùng đất này. Khi đã đóng
xong vai mình trong phim, anh-ta được đưa đến Trại “Tiên-Lãnh I” trên cùng chuyến
xe với tôi.
VÀO ngày 30-4-1985,
Việt-Cộng đem chiếu cuốn phim thành-tích mười năm của chúng cho mọi tù-nhân tại
các Trung-Tâm Lao+Cải và Trại Tạm-Giam đều xem.
CŨNG như lệ thường,
tôi xốc nách Dân, dìu xuống mấy bậc thềm đá từ buồng cách-ly ra sân, sắp hàng đếm
số, rồi cùng tiến vào hội-trường. Hằng
ngày, anh-ta vui-vẻ cười chào mọi người gặp trên đường đi; nhưng tối nay thì
anh-ta cúi đầu lặng-lẽ bước đi như một tử-tội đang bị dẫn ra pháp-trường.
Tôi tôn-trọng niềm
suy-tưởng của người bạn-tù. Trước đó,
Nguyễn An Dân đã nói với tôi là người-ta muốn giết anh-ta thêm một lần nữa. Một cái chân què, kết-quả cụ-thể của một
chính-sách vô-nhân đối với tù-nhân bị bệnh trong cảnh xích-xiềng, đã giết chết
sự toàn-vẹn và sức mạnh thể-xác còn lại của anh-ta. Một bản án tử-hình, tuyên ra không phải là
không do ý muốn kết-liễu cuộc đời của anh-ta.
Một quyết-định giảm án, chỉ làm cho anh-ta, dù thụ-động, cảm thấy mình
không xứng-đáng sống trước anh-linh của Nguyễn Văn Bảy và các anh-hùng khác đã
hy-sinh, cũng như bao nhiêu chiến-hữu khác, vì có gia-đình, tài-sản, và sự-nghiệp,
nên mất-mát và đau-đớn nhiều hơn anh-ta.
“Bây giờ lại còn bắt
mình phơi mặt ra trước tập-thể, để xác-nhận với mọi người về nội-dung của một
cuốn phim mà đạo-diễn đã cố ý dàn-dựng cho chế-độ đương-quyền lớn+mạnh và
công+chính, trong lúc lực-lượng khởi-nghĩa mà mình là chứng-nhân tiêu-biểu thì
nhỏ+yếu và tư+tà, tức là giết nốt những hình-ảnh kiêu-hùng mà đồng-bào trong niềm
ngưỡng-mộ đã từng hình-dung ra. Nó là phần
kỷ-niệm đẹp nhất đã ghi-khắc trong tâm-hồn mình, cho những ngày còn lại của cuộc
đời mình...”
NGỒI giữa cả nghìn
con-người, chính-trị-phạm lẫn thường-phạm, đang náo-nức xem phim, tôi cũng trầm-ngâm
nghĩ-ngợi theo Dân. Bây giờ anh-ta mới
thấy tiếc là đã không hề làm một bài thơ tình; bây giờ anh-ta mới thấy tình-cảm
mà một cựu-nữ-sinh-viên Văn-Khoa Sài-Gòn nào đó đã dành cho anh-ta ngày xưa là
quý-báu và cần-thiết vô-cùng.
Trước ngày mà Dân tưởng
là phải ra pháp-trường, anh-ta đã được gặp mẹ; bà-cụ chỉ khóc: “Con đừng chết
trước mẹ, con ơi!” Và mới ngày hôm qua, được gặp mẹ vào thăm+nuôi, Dân cũng chỉ
khóc: “Mẹ đừng chết trước ngày con về, mẹ ơi!”
NHƯNG tôi bỗng thấy rộn
lên trong lòng một niềm vui mênh-mang.
Khắp nước chắc-chắn
có nhiều cán-bộ như Nguyễn An Dân, chưa mất lương-tri, một sớm một chiều trở về
trong lòng Quốc+Dân.
Và cũng hiển-nhiên vẫn
có vô-vàn công-dân như Nguyễn Văn Bảy, không vì bất-hòa trong nhà mà nỡ đành
lòng chấp-nhận để cho giặc+cướp xông vào tàn-sát bà-con...
LÊ XUÂN NHUẬN
LeXuanNhuan.com
******************
LỐI VỀ
Người về đâu trong
chiều xuân hoa nắng
Tiếng nhạc lòng hò hẹn
những thanh âm
Sao bước chân vẫn lặng
lẽ âm thầm
Và đôi mắt chao ôi!
Buồn xa vắng…
Người về đâu trong
thoáng chiều gió hạ?
Mà cung đàn trầm lặng
nét phôi pha
Những bước chân tìm
đâu bóng quê nhà
Ôi đôi mắt! u uẩn buồn
xa lạ…
Người về đâu trong
chiều thu vàng võ?
Cung khúc buồn dìu
cánh lá vàng khô
Này người ơi còn đây
nỗi mong chờ
Xin mắt biếc thôi
vương sầu lệ nhỏ
Người về đâu trong
chiều đông tuyết phủ?
Nhạc lưng trời thoáng
ước hẹn nghìn thu
Kìa dáng ai trong
sương tuyết mịt mù
Bước ngập ngừng… mắt
tìm về lối cũ
HOÀNG NGỌC QUỲNH GIAO
(Bruxelles, Belgium)
THE FORMER WAY
Where were you going
in the evenings of sunny spring
While the soul song
was expected for you to sing?
Why your footsteps
were still silent, solitary;
And your eyes, oh!
What sadness away to carry…
Where were you going
in the evenings of windy summer
While the music
sounded so low as bass of a drummer.
Where could your
footsteps search for home?
Oh! Your eyes looked
like melancholy at far foam…
Where were you going
in the evenings of pallid fall
As mild melody sent
off dry yellow leaves after all?
Hey! there still was
here the longing for your return;
Please! your eyes,
cease shedding tears of concern.
Where were you going
in the evenings of snowy winter
As the sky resounded
with promised faith to disinter?
Look! Whose figure
was appearing in the frost grey
With steps halting,
eyes looking for the former way…
Translation by
THANH-THANH
https://en.wikipedia.org/wiki/Lê_Xuân_Nhuận
***********
Bây Giờ
Bây giờ lỡ một bước về
Đàn rưng rức khóc bên
lề ly tan
Nhiều khi trong giấc
mơ màng
Tưởng còn vang dậy mộng
vàng son xưa
Gió bay bụi phấn tro
thừa
Trầm ngâm đứng đón
chiều đưa qua đời
Man man câu chúc tiếng
cười
Âm thầm gió cuốn khuất
lời buồn tênh
Bỗng dưng lòng trổ
thác ghềnh
Giam ta chết giữa mấy
dền cô đơn
Tháng năm xếp lớp ven
đường
Bàn tay quấn quýt giữ
vườn xuân xanh
Xin cho một giấc mơ
lành
Dù sương khói sẽ tan
tành ngày mai
Bây giờ lỡ mộng tương
lai
Nằm ôm dĩ vãng thở
dài mà thôi
Bây giờ lỡ một môi cười
Sắt se tim nhỏ dấu đời
phôi pha
Ta về riêng mỗi mình
ta
Lắng nghe thơ trẻ chết
già từ lâu
Dẫu cho còn chỉ nỗi sầu
Vẫn xin trở lại buổi
đầu bình yên.
Lê Mai
NOWADAYS
Now that I have
missed the return pace,
Things sound weepy in
a separation case.
Many a time during
the dreams in haze
I felt them resound
with the good old days.
Chalk dust is by the
wind blown away;
I pensively wait the
evenings my life to sway.
Compliments and
laughter vaguely around
Are also silently
swept off as sad sound.
My heart suddenly
grows into rapids & falls
To imprison me up in
the loneliness walls.
Months and years pile
up on the roadside,
My hands pother to
guard my green tide.
May I have a
wholesome dream tonight
Tho’ tomorrow the dew
will disperse quite.
Nowadays, I have
missed the future sky,
Just to embrace the
past only to sigh.
Now that I have
missed a flowering smile,
I keep in my tiny
soul the mark of life trial.
On the way back to
myself I am alone
To listen to the
young long ago out blown.
Even if I remain in
the sole solitude clime
I still crave
fervidly for the peaceful prime.
LÊ MAI
Translation by
THANH-THANH
https://en.wikipedia.org/wiki/Lê_Xuân_Nhuận
*****************